spot_img
6.5 C
New York
Thứ Sáu, Tháng Một 27, 2023

Báo chí với vấn đề an sinh xã hội – Tài liệu text

Báo chí với vấn đề an sinh xã hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.21 MB, 120 trang )

0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ
o0o

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ

Hà nội – 2006

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ AN SINH
XÃ HỘI
(KHẢO SÁT QUA CÁC BÁO LAO ĐỘNG VÀ XÃ HỘI, LAO ĐỘNG, HÀ
NỘI MỚI TỪ NĂM 2005- 2006)

CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60.32.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐINH VĂN HƯỜNG

HÀ NỘI- 2006

2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
7
1. Tính cấp thiết của đề tài…………………………………………
7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………………
9
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………………………………
10
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………
11
6. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………
11
7. Kết cấu của luận văn……………………………………………
12
Chƣơng I:
Một số vấn đề chung về An sinh xã hội

13
1.1. Khái niệm An sinh xã hội………………………………………
13

1.2. Đối tượng, mục tiêu, nội dung, quy mô An sinh xã hội………
17
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến An sinh xã hội……………………
19
1.4. Vài nét về An sinh xã hội trên thế giới………………………
23
1.5. An sinh xã hội ở Việt Nam…………………………………
28
1.5.1. Đặc điểm An sinh xã hội ở Việt Nam trong các thời kỳ…….
29
1.5.2. Hệ thống chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay…
32
1.5.3. Các bộ phận cấu thành của hệ thống An sinh xã hội ở Việt
Nam………………………………………………………………….

34
Tiểu kết chƣơng I…………………………………………………
39
Chƣơng II:
Vai trò của báo chí trong việc phản ánh vấn đề An sinh xã hội

41
2.1. Vai trò của báo chí trong việc phổ biến chính sách An sinh xã
hội…………………………………………………………………

41
2.1.1. Hệ thống báo chí Việt Nam hiện nay ……………………
42
2.1.2. Báo chí tích cực tuyên truyền các vấn đề An sinh xã hội…….
44

3
2.2. An sinh xã hội qua phản ánh của báo chí nói chung và các báo
Lao động, Lao động và Xã hội, Hà Nội Mới (2005- 2006)……….

48
2.2.1. Chính sách của Nhà nước về An sinh xã hội thể hiện trên báo
Lao động và Xã hội, Lao động, Hà Nội Mới………………………

50
2.2.2. Các tờ báo đăng tải các thông tin góp ý, phản hồi, dự báo,
cảnh báo ảnh hưởng của các chính sách An sinh xã hội………….

59
2.2.3. Nhanh chóng đưa thông tin về các thảm hoạ và tham gia các
phong trào xã hội khắc phục hậu của của thảm họa………………

65
2.3. Một số số liệu thống kê khảo sát trên 3 tờ báo Lao động và Xã
hội, Lao động, Hà Nội Mới………………………………………

79
2.4. Dư luận xã hội đối với các thông tin về An sinh xã hội trên báo
chí…………………………………………………………………

85
Tiểu kết Chƣơng II………………………………………………
87
Chƣơng III:
Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng và hiệu quả thông tin về

An sinh xã hội trên báo chí

89
3.1 Nâng cao chất lượng thông tin về An sinh xã hội trên báo chí là
vấn đề khách quan, bức thiết……………………………………

89
3.2 Nhiệm vụ của các cơ quan báo chí trong việc tuyên truyền An
sinh xã hội…………………………………………………………

94
3.3. Khó khăn của báo chí hiện nay trong việc thể hiện thông tin về
An sinh xã hội……………………………………………………

99
3.4. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm………………………
100
3.4.1. Nguyên nhân…………………………………………………
100
3.4.2. Bài học kinh nghiệm…………………………………………
103
3.5. Một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về An sinh xã
hội trên báo chí……………………………………………………

106

4
Tiểu kết Chƣơng III……………………………………………
111

KẾT LUẬN………………………………………………………
113
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………
115

5
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Cuộc sống hiện đại đem lại cho con người ngày càng nhiều tiện nghi
sống nhưng cũng đang đặt ra nhiều vấn đề xã hội bức xúc: môi trường ô
nhiễm, bệnh tật, thiên tai, thất nghiệp, nghèo đói Xã hội ngày nay đang rất
quan tâm tới việc bảo vệ những người bị tổn thương, thiệt thòi, yếu thế do hậu
quả của các nguy cơ này gây ra. Đại bộ phận các quốc gia trên thế giới đều tổ
chức các hoạt động, đưa ra những cơ chế, chính sách nhằm hoặc là ngăn
ngừa, quản lý những khó khăn, hoặc giúp con người vượt qua khó khăn.
Những cơ chế, chính sách, dịch vụ hay các hoạt động của nhà nước và của xã
hội nhằm đáp ứng nhu cầu được an toàn sinh sống gọi là An sinh xã hội.
Nếu nhìn lại quá trình phát triển của xã hội loài người, có thể nhận
thấy, dưới bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, con người cũng có mong muốn được
sinh sống an toàn. Nhưng những tai hoạ đến từ tự nhiên, xã hội hay chính con
người khiến mỗi người đều phải đối diện với những nguy cơ mất an toàn cho
cuộc sống của mình. Chính vì thế, ở mỗi thời đại, mỗi xã hội hay mỗi con
người nói riêng đều có những cách thức khác nhau để khắc phục những nguy
cơ và thiệt hại đó. Trong xã hội hiện đại, ngoài những cơ chế, chính sách, dịch
vụ, hoạt động của nhà nước và xã hội, người ta còn biết đến những rủi ro và
cách khắc phục qua một phương tiện rất hữu hiệu là truyền thông đại chúng.
Các phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò đặc biệt quan trọng
trong việc phản ánh An sinh xã hội. Vai trò đó được biểu hiện ở chỗ báo chí
là phương tiện của các thiết chế xã hội nhằm bảo đảm phổ biến thông tin trên
quy mô đại chúng về hệ thống các chính sách, đường lối của Nhà nước về An
sinh xã hội; đồng thời là diễn đàn cho toàn dân thể hiện, tập hợp các ý kiến,

6
kinh nghiệm giải quyết các vấn đề An sinh xã hội cũng như là phương tiện

kêu gọi sự giúp đỡ của toàn xã hội đối với mỗi cá nhân đang gặp khó khăn.
An sinh xã hội là cụm từ tương đối mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, đây lại
là nhiệm vụ luôn được Đảng và Nhà nước đặt lên hàng đầu trong khi xây
dựng các chính sách về xã hội.
Lịch sử của dân tộc Việt Nam gắn liền với các cuộc đấu tranh giành
độc lập và bảo vệ Tổ quốc, chống thù trong, giặc ngoài. Trong các cuộc đấu
tranh, không những các công trình tự nhiên và xã hội bị tàn phá, mà người
dân Việt Nam cũng phải gánh chịu mất mát rất lớn về người và của. Thậm
chí, những di chứng chiến tranh còn để lại qua rất nhiều thế hệ, như ảnh
hưởng của chất độc hoá học do quân đội Mỹ rải xuống trong thời kỳ chiến
tranh Việt Nam.
Hơn 30 năm sau chiến tranh, Việt Nam đã và đang tự khắc phục những
vết thương và đang phát triển mọi mặt. Hệ thống An sinh xã hội được hình
thành ngay từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập đang
ngày càng được hoàn thiện. Những năm qua, đặc biệt kể từ sau thời kỳ đổi
mới, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống các chính sách An sinh xã hội
khá rộng khắp và còn tiếp tục phát triển hệ thống An sinh xã hội với mục
đích: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, mang lại
cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mỗi người dân. Chẳng hạn như các chính
sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với
cách mạng; chính sách xoá đói giảm nghèo; chính sách đối với những vùng
đặc biệt khó khăn, vùng gặp thiên tai…
Bên cạnh các chính sách, Nhà nước và toàn dân còn phát triển những
phong trào và hệ thống dịch vụ để phần nào đảm bảo an sinh, an toàn xã hội
cho mọi người dân.

7
Báo chí Việt Nam là tiếng nói của Đảng và Nhà nước, diễn đàn của
nhân dân, đã vào cuộc với những bài viết, tin, ảnh phong phú, hấp dẫn và cập
nhật về nội dung An sinh xã hội. Báo chí nhìn chung đã cập nhật được các

chính sách, chủ trương mới của Đảng, Nhà nước và các phong trào, hoạt động
của xã hội về các lĩnh vực liên quan đến An sinh xã hội. Tuy nhiên, để phản
ánh các vấn đề An sinh xã hội thật sự có hiệu quả, báo chí cần có những
hướng đi tích cực hơn nữa.
Qua khảo sát 3 tờ báo Lao động, Lao động& Xã hội, Hà Nội Mới trong
thời gian từ tháng 1/2005 đến tháng 11/2006, luận văn hy vọng làm rõ phần
nào vai trò của báo chí nói chung trong việc phản ánh các vấn đề về An sinh
xã hội, đồng thời rút ra những nhận xét ban đầu nhằm đưa ra những gợi ý cho
việc thông tin lĩnh vực này tốt hơn trên báo chí.
Với tầm quan trọng và ý nghĩa cấp thiết như vậy nên tôi chọn đề tài
“Báo chí với vấn đề An sinh xã hội” để thực hiện luận văn thạc sỹ báo chí
của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu về An sinh xã hội
tương đối mới mẻ ở nước ta. Hiện nay, mới chỉ có một số trường đại học có
bộ môn và có giáo trình “An sinh xã hội” hoặc giảng dạy chuyên đề này là
trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, trường Đại học Lao động- Xã hội, Hà
Nội và trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Về báo chí học, đề tài
nghiên cứu mối quan hệ giữa báo chí và các vấn đề An sinh xã hội cũng chưa
từng có trước đây. Chính vì thế, trong quá trình chon lựa và nghiên cứu đề tài,
chúng tôi có rất ít nguồn tư liệu trong nước để tham khảo, ngoài giáo trình của
các trường đại học trên (chưa hề đề cập đến sự phản ánh An sinh xã hội trên
báo chí). Chủ yếu tư liệu chúng tôi thu nhập được qua các tài liệu về An sinh
xã hội nước ngoài, các văn bản, chính sách của Nhà nước và kết quả khảo sát
trên các tờ báo nói chung và 3 tờ báo trên nói riêng.

8
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Đề tài luận văn tương đối mới trong lý luận báo chí học, mở ra một
hướng nghiên cứu về lĩnh vực đang rất được xã hội quan tâm và cũng là chủ

trương lớn của Đảng, Nhà nước, đó là An sinh xã hội và sự thể hiện An sinh
xã hội trên báo chí.
Qua việc nghiên cứu lý luận về An sinh xã hội, khảo sát việc phản ánh
An sinh xã hội trên một số tờ báo, luận văn đưa ra những quan niệm, nguyên
tắc, phương pháp tiến hành nắm bắt đầy đủ ý nghĩa của An sinh xã hội qua
kênh thông tin đại chúng, phục vụ cho việc nghiên cứu, quản lý và ứng dụng
hệ thống An sinh xã hội ở Việt Nam ở tầm vĩ mô cũng như thấy được tầm
quan trọng của hệ thống này đối với toàn xã hội và mỗi người dân.
Luận văn là một tài liệu tham khảo, góp phần vào hệ thống tư liệu khoa
học chung về báo chí-truyền thông, nhằm phục công tác nghiên cứu, giảng
dạy, học tập về báo chí hiện nay.
Đây cũng là tài liệu tham khảo rộng rãi cho các cơ quan chỉ đạo và
quản lý báo chí, các cơ quan báo chí và mọi người quan tâm đến lĩnh vực An
sinh xã hội, thực trạng thể hiện An sinh xã hội trên báo chí và một số giải
pháp bước đầu nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phản ánh lĩnh vực An sinh xã
hội trên báo chí hiện nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nhằm các mục đích sau:
– Trên cơ sở phân tích các tư liệu, tài liệu về An sinh xã hội và thực tiễn
An sinh xã hội ở nước ta, luận văn bước đầu xây dựng những vấn đề lý
luận cơ bản về An sinh xã hội; các phương pháp nghiên cứu về An sinh xã
hội; khảo sát hoạt động thực tiễn báo chí về lĩnh vực An sinh xã hội cũng
như tác động phản ánh về lĩnh vực này của báo chí đối với công chúng báo
chí.

9
– Luận văn đồng thời phân tích, tổng kết thực tiễn việc thực hiện các
chính sách, phong trào An sinh xã hội và hiệu quả của mạng lưới An sinh xã
hội ở nước ta; mối quan hệ qua lại giữa An sinh xã hội và báo chí để đưa ra
những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền an sinh sinh

xã hội trên báo chí.
– Luận văn cũng mở ra một hướng nghiên cứu, tiếp cận đối với lý luận
và thực hành báo chí- truyền thông hiện đại nói chung, góp phần nâng cao
hiệu quả tuyên truyền của báo chí.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quan điểm lý luận chung
về An sinh xã hội và báo chí trong việc phản ánh An sinh xã hội qua các tài
liệu về An sinh xã hội và báo chí.
Luận văn cũng nghiên cứu sơ khảo nền An sinh xã hội ở Việt Nam và
cách thức tiếp cận hệ thống An sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu:
An sinh xã hội là khái niệm rộng và mới ở Việt Nam hiện nay. Lĩnh
vực An sinh xã hội bao gồm nhiều mảng công tác khác nhau. Phản ánh các sự
kiện liên quan đến An sinh xã hội là nhiệm vụ chung của mọi cơ quan báo
chí.
Trong khuôn khổ luận văn khoa học, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu
vấn đề An sinh xã hội được phản ánh trên 3 tờ báo Lao động, Lao động và Xã
hội, Hà Nội Mới trong thời gian từ tháng 1/2005 đến tháng 11/2006.
Luận văn cũng tham khảo ý kiến một số chuyên gia về lĩnh vực An sinh
xã hội và một số cơ quan báo chí để rút ra những nhận xét và góp ý để tăng
tính hiệu quả thông tin về An sinh xã hội trên báo chí.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu

10
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước về An sinh xã hội và sự nghiệp thông tin đại chúng.
Cơ sở nghiên cứu thực tiễn của luận văn là thực tiễn phản ánh An sinh
xã hội trên báo chí những năm gần đây.

Thưc hiện luận văn là quá trình chọn lọc, kiểm tra và xử lý các tài liệu
thu thập được từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đề tài xác định bước đầu
những cơ sở lý luận của việc nghiên cứu An sinh xã hội, đánh giá thực tiễn
vai trò phản ánh An sinh xã hội và tác động của việc phản ánh lĩnh vực này
đối với dư luận qua việc khảo sát 4 tờ báo, tạp chí.
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, lấy ý kiến
chuyên gia để lý giải vấn đề. Đề tài kế thừa một cách có chọn lọc những
nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của
luận văn gồm có 3 chương sau đây:
Chương I: Một số vấn đề chung về An sinh xã hội.
Chương II: Vai trò của báo chí trong việc phản ánh An sinh xã hội
(khảo sát qua các báo Lao động, Lao động và Xã hội, Hà Nội Mới từ 2005-
2006).
Chương III: Một số giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả thông
tin An sinh xã hội trên báo chí.
Nội dung chính của luận văn sẽ được trình bày Theo các chương, mục
trên.

11
CHƢƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ AN SINH XÃ HỘI
1.1. Khái niệm An sinh xã hội
“An sinh” là một từ Hán-Việt. An- trong chữ “an toàn”, Sinh- trong chữ
“sinh sống”, an sinh có thể được hiểu là “an toàn sinh sống”. Như vậy, có thể
nói một cách khái lược, đơn giản nhất: xã hội an sinh là một xã hội mà mọi

người được an toàn sinh sống, hay là có cuộc sống an toàn.
Trong quan niệm về quy luật tự nhiên- xã hội- con người của triết học
phương Đông, An sinh xã hội bắt nguồn từ chính những rủi ro trong cuộc đời
của mỗi con người. Rủi ro có thể đến với bất cứ ai, bất kỳ lúc nào. Sự rủi ro
đó có thể bắt nguồn từ quy luật sống của con người “sinh-lão-bệnh-tử”, nhưng
cũng có thể do những nguyên nhân khách quan ngoài tầm kiểm soát của mỗi
cá nhân như: thiên tai, chiến tranh,…
Dưới thời đại tiền công nghiệp, khi đại bộ phận người dân sống nhờ
vào nông nghiệp, lao động tập trung ít, thiết chế gia đình còn vững mạnh, hệ
thống tôn giáo có tiếng nói quyền lực nhất định, thì sự hoá giải những rủi ro
phụ thuộc nhiều từ phía gia đình và tôn giáo. Trong xã hội công nghiệp hiện
đại, các vấn đề xã hội càng ngày càng nảy sinh phức tạp, ngày càng nhiều rủi
ro đe doạ cuộc sống của mỗi gia đình, mỗi con người như xung đột sắc tộc,
các bệnh tật mới chưa có thuốc chữa, mất cân bằng sinh thái dẫn đến môi
trường sống của con người bị ảnh hưởng trầm trọng, các tệ nạn xã hội
Chính vì thế, An sinh xã hội luôn được đặt ra như một chương trình tầm cỡ
quốc gia, thậm chí toàn cầu. Những cơ chế, chính sách, dịch vụ hay các hoạt
động của Nhà nước và xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu được an toàn sinh sống
được gọi là An sinh xã hội.
Trên thế giới, An sinh xã hội là từ rất phổ cập, đặc biệt là ở những quốc
gia công nghiệp phát triển. Trong tiếng Anh, từ này thường được dùng là

12
“social security” (an toàn xã hội). Đây là khái niệm được dùng trong hệ thống
luật pháp, các giáo trình học, từ điển và các dịch vụ xã hội khác. Có thể thấy
rất nhiều định nghĩa về cụm từ này trong các từ điển quốc tế.
Theo website investorwords.com (Mỹ), An sinh xã hội nghĩa là
“Chương trình toàn liên bang về trợ cấp cho công nhân và những người sống
phụ thuộc vào họ những khoản như lương hưu, trợ cấp cho người khuyết tật
và các chi trả khác của họ. Thuế An sinh xã hội được dùng để chi trả cho

chương trình này”.
Từ điển Answers.com lại cho rằng: “An sinh xã hội là chương trình của
Chính phủ nhằm trợ giúp kinh tế cho những người đang phải đối mặt với nạn
thất nghiệp, khuyết tật, tuổi già. Nguồn kinh phí được chi trả từ những người
đang làm việc và người sử dụng lao động”.
Bách khoa toàn thư Britannica lại cho một định nghĩa rất dài, kèm
thêm lịch sử ra đời của khái niệm này: “An sinh xã hội là những nguồn cung
cấp của cộng đồng nhằm đảm bảo an toàn kinh tế và phúc lợi xã hội cho tất
cả những cá nhân và gia đình họ, đặc biệt trong trường hợp bị mất thu nhập
do thất nghiệp, bị thương do lao động, sinh đẻ, ốm đau, tuổi già và cái chết.
An sinh xã hội không chỉ bao hàm bảo hiểm xã hội mà còn các dịch vụ y tế,
phúc lợi và những chương trình duy trì nguồn thu nhập được xây dựng để
tăng phúc lợi của người thụ hưởng thông qua các dịch vụ xã hội. Một số hình
thức tổ chức hợp tác về bảo đảm kinh tế cho các cá nhân ban đầu hình thành
bởi các hiệp hội công nhân, các đoàn thể có lợi ích ràng buộc lẫn nhau và
các liên đoàn lao động. Mãi đến thế kỷ 19- 20, An sinh xã hội mới được ban
hành thành luật rộng rãi, mô hình đầu tiên xuất hiện ở Đức năm 1883. Hầu
hết các quốc gia phát triển hiện nay đều có các chương trình An sinh xã hội
nhằm cung cấp các lợi ích hay dịch vụ thông qua một số kênh chính như bảo
hiểm xã hội và trợ giúp xã hội- chương trình theo nhu cầu dành riêng cho
người nghèo”.

13
Bách khoa toàn thư của Đại học Columbia (Mỹ) cho rằng, “An sinh xã
hội là chương trình Chính phủ nhằm cung cấp sự an toàn kinh tế và phúc lợi
cho cá nhân và những người phụ thuộc vào họ. Chương trình được xây dựng
khác nhau ở mỗi quốc gia do những quan niệm về An sinh xã hội khác nhau
của những nước đó, nhưng tất cả đều do luật pháp Chính phủ quy định và
đều được thiết kế nhằm cung cấp một số khoản tiền để chi trả cho việc mất
hoặc suy giảm thu nhập”.

An sinh xã hội trong thông lệ quốc tế còn được hiểu như một quyền của
con người. Hiến chương Đại Tây Dương khẳng định: “An sinh xã hội được
hiểu theo nghĩa rộng là sự đảm bảo thực hiện quyền con người trong hoà
bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát triển chính kiến trong khuôn
khổ pháp luật, được học tập, làm việc và nghỉ ngơi, có nhà ở, được chăm sóc
y tế và bảo đảm về thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu
khi bị rủi ro, thai sản, tuổi già”.
Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hiệp quốc được thông
qua ngày 10/12/1948 có đoạn: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên
của xã hội có quyền hưởng An sinh xã hội. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả
mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do
phát triển con người…” và “Mỗi người có quyền có một mức sống cần thiết
cho việc giữ gìn sức khoẻ cho bản thân và gia đình, có quyền được bảo đảm
trong trường hợp thất nghiệp…”.
Ngoài những định nghĩa chung đó, theo các quan điểm của một số
chuyên gia, An sinh xã hội có thể được định nghĩa theo 2 góc độ: hẹp và rộng.
* An sinh xã hội theo nghĩa hẹp:
+ “An sinh xã hội theo nghĩa hẹp là những khoản trợ cấp và các dịch
vụ giúp cho con người đáp ứng nhu cầu cơ bản là sự chuyển dịch các phúc
lợi bên ngoài thị trường” (Tiến sỹ Darkwa, trường Đại học Tổng hợp
Ilinois, Chicago, bài giảng “Nhập môn An sinh xã hội”).

14
+ “An sinh xã hội là chức năng phi lợi nhuận của xã hội, Nhà nước và
giới tình nguyện nhằm mục đích xoá bỏ sự đói rách, những tình cảnh bần
cùng hoá của xã hội” (Dolgilf Feldstein, 1993).
+ “An sinh xã hội là những quy tắc để trợ cấp cho những người cần tới
sự trợ giúp để đáp ứng nhu cầu cơ bản trong cuộc sống như việc làm, thu
nhập, lương thực, thực phẩm, y tế và mối quan hệ” (Karger và Soesz, 1990).
* An sinh xã hội theo nghĩa rộng:

+ “An sinh xã hội là một bộ phận cấu thành của chính sách xã hội
được coi là chính thức và là sự quy định phù hợp với những vấn đề của con
người” (Karger và Soesz, 1994).
+ “An sinh xã hội là bất cứ điều gì Nhà nước quyết định làm và không
làm vì chất lượng cuộc sống của công dân nước đó” (Dinikito, 1991).
+ “An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội dành cho các thành viên của
mình thông qua một số biện pháp công cộng nhằm đối phó với những khó
khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập một cách đáng
kể vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tuổi già hoặc chết, đồng
thời đảm bảo chăm sóc y tế và trợ cấp cho những gia đình đông con” (Công
ước 102 (Công ước về An sinh xã hội, 1952) củaTổ chức Lao động Quốc tế
(ILO)).
+ “An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với công dân thông qua
các biện pháp công cộng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn về kinh tế
và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập từ nguyên nhân ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, người già cô đơn, trẻ mồ côi đồng thời
đảm bảo chăm sóc y tế và trợ cấp cho gia đình đông con” (Từ điển Bách
khoa Việt Nam toàn tập, 1995).
Tóm lại, An sinh xã hội là một tấm lưới chắn, hay một chiếc ô đảm bảo
an toàn cho xã hội và con người, có thể hiểu theo hai nghĩa:

15
An sinh xã hội ở nghĩa hẹp là sự hỗ trợ bằng vật chất, tinh thần, các
dịch vụ xã hội của Nhà nước, cộng đồng xã hội cho những đối tượng (cá
nhân, gia đình, cộng đồng) nghèo đói, yếu thế, dễ bị tổn thương, khi họ gặp
khó khăn để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người.
An sinh xã hội ở nghĩa rộng là hệ thống chính sách, pháp luật,
chương trình dịch vụ xã hội được Nhà nước, thị trường và cộng đồng
thực hiện bằng nguồn ngân sách Nhà nước, đóng góp của người lao động
và người sử dụng lao động nhằm nâng cao năng lực của người dân, gia

đình và cộng đồng đảm bảo để tăng cường khả năng ngăn ngừa, giảm nhẹ
và đối phó với rủi ro.
1.2. Đối tƣợng, mục tiêu, nội dung, quy mô An sinh xã hội
Từ định nghĩa, có thể rút ra các đặc điểm:
*Đối tƣợng của An sinh xã hội: Là những cá nhân, nhóm, cộng đồng,
không phân biệt giới tính, thành phần xã hội, tôn giáo, sắc tộc, màu da bị rơi
vào những hoàn cảnh khó khăn bất thường. An sinh xã hội đặc biệt được thiết
kế cho những nhóm dễ bị tổn thương nhất như phụ nữ, trẻ em, người già,
người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt
khó khăn…
* Mục tiêu của An sinh xã hội: Cải thiện môi trường, cuộc sống của
con người, tăng khả năng của các cá nhân, nhóm, cộng đồng trong việc ngăn
ngừa, giảm nhẹ và đối phó hữu hiệu với các rủi ro. Hoàn thiện hệ thống luật
pháp về An sinh xã hội cấp quốc gia, khu vực, quốc tế, đặc biệt là các dịch vụ
công cộng để can thiệp kịp thời, phòng ngừa, quản lý các thiên tai, rủi ro khi
gia đình, cá nhân, nhóm, cộng đồng không thể ứng phó được.
* Nội dung và các biện pháp của An sinh xã hội: Các chính sách
điều tiết hợp lý thu nhập của các cá nhân trong xã hội, sử dụng các nguồn
đóng góp (như thuế, bảo hiểm, vận động tự nguyện…) của người lao động,

16
chủ sử dụng lao động để tái phân phối cho nguồn lực chung trong những
trường hợp cần trợ giúp để đảm bảo an toàn xã hội cho người dân thông qua
trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp ốm đau, bảo hiểm y tế… cho người lao động bị
gặp rủi ro và người trong gia đình sống phụ thuộc vào họ.
* Trách nhiệm thực thi An sinh xã hội: Các cá nhân, gia đình, cộng
đồng, các tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp, Nhà nước…
* Cấu trúc của hệ thống An sinh xã hội: Khác nhau phụ thuộc vào
cách chia của từng quốc gia. Phổ biến là chia hệ thống An sinh xã hội theo 3
tầng: 1. Phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản để mọi người dân được hưởng

thị, phát triển và ngăn ngừa rủi ro. 2. Phát triển bảo hiểm, bảo hiểm xã hội và
nhiều cơ chế thị trường khác gắn với việc làm của người lao động. 3. Trợ giúp
đặc biệt dành cho những người(và người phụ thuộc vào họ) rơi vào hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn nằm ngoài khả năng giúp đỡ của gia đình, cộng đồng.
Nghiên cứu An sinh xã hội là nghiên cứu những quy luật chi phối và
gây nguy cơ đến nhu cầu cá nhân, nhóm, cộng đồng dễ bị tổn thương; đồng
thời nghiên cứu những quy luật của xã hội và những giải pháp xã hội để
phòng ngừa, giảm thiểu những nguy cơ, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của
các cá nhân, nhóm, cộng đồng này. Nghiên cứu, phản ánh An sinh xã hội
cũng là hình thức nghiên cứu những tác động qua lại giữa kiến trúc thượng
tầng và cơ sở hạ tầng, quy luật tổ chức xã hội, quản lý xã hội… Nói chung,
hiểu và phản ánh về An sinh xã hội tức là nắm bắt được các khía cạnh của An
sinh xã hội, phản ánh ở phương diện cá nhân (người, nhóm, cộng đồng) yếm
thế và những giải pháp, chương trình công cộng và hệ thống trợ giúp xã hội
của một quốc gia, khu vực hay toàn cầu.
Để hiểu rõ khái niệm An sinh xã hội, phải nắm được những yếu tố:
– Khái niệm, phạm trù về An sinh xã hội; sự phát triển nhận thức về An sinh
xã hội gắn với mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.

17
– Ý nghĩa, vai trò của An sinh xã hội trong đời sống cá nhân, nhóm, cộng
đồng, xã hội và toàn nhân loại.
– Những yếu tố xã hội trong phạm vi quốc gia, quốc tế, tác động(tích cực, tiêu
cực) đến hệ thống an sinh quốc gia, quốc tế.
– Lịch sử hình thành, phát triển An sinh xã hội và mô hình An sinh xã hội ở
một số nước, khu vực trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
– Hệ thống pháp luật An sinh xã hội của luật pháp quốc tế, một số nước điển
hình và Việt Nam.
– Bộ máy Nhà nước và các thiết chế xã hội thực hiện An sinh xã hội ở Việt
Nam.

– Nguồn lực tài chính thực hiện An sinh xã hội ở Việt Nam.
– Hệ thống An sinh xã hội ở Việt Nam với nét đặc trưng riêng, trong hệ thống
An sinh xã hội chung(quy định bởi điều kiện, môi trường lịch sử, xã hội, văn
hoá, truyền thống, kinh tế, tư tưởng…).
Nắm rõ khái niệm An sinh xã hội là chìa khoá giúp các phóng viên viết
về An sinh xã hội làm chủ được nội dung và phương hướng tuyên truyền cho
bài viết của mình.
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến An sinh xã hội
Xã hội như một cơ thể, được cấu thành bởi muôn vàn tế bào và cấu
trúc, trong đó có các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng, giai tầng… cùng
với các mối quan hệ phức tạp đan xen và các quy luật vận động, phát triển.
Con người nói chung đều chịu ảnh hưởng của môi trường sống trong cuộc đời
mình, đó là môi trường tự nhiên, xã hội. Trong môi trường sống đó, con
người luôn có khả năng chịu những rủi ro, hiểm hoạ. Bên cạnh các nguy cơ
đến từ tự nhiên như lũ lụt, bão, núi lửa, tuổi già và cái chết… Thì bản thân
con người và xã hội cũng vô tình hoặc hữu ý tạo ra những nguy cơ bất an cho
An sinh xã hội. Dưới đây là một số nguy cơ đã được thống kê:

18
* Toàn cầu hoá và nghèo đói
Bên cạnh những cơ hội như giao lưu văn hoá, giao thương mở cửa,
chuyển giao công nghệ, tri thức… toàn cầu hoá cũng mang lại những khoảng
cách giàu- nghèo ngày một lớn và nguy cơ các nước nghèo càng nghèo hơn
do bị nền kinh tế- thương mại của nước giàu chi phối. Hậu quả là số lượng
người thất nghiệp, phá sản tăng, người nghèo tăng và những hộ buôn bán nhỏ
cũng như những gia đình trung lưu trở xuống dễ bị tổn thương.
* Môi trƣờng, thảm hoạ, sinh thái
Kinh tế- thương mại- khoa học- công nghệ càng phát triển thì nguy cơ
môi trường sống của con người và các sinh vật khác trên thế giới bị tàn phá
càng cao. Một thực tế đáng buồn là khi các nước phát triển đã có nền kinh tế,

tri thức và tiềm năng đủ mạnh để bảo tồn thiên nhiên, môi trường sống của
người dân nước mình(điều kiện sống của họ rất cao- cả về thu nhập và môi
trường sống), thì ở những nước đang phát triển- nơi chiếm phần lớn dân số
thế giới, môi trường sống đang bị đe doạ ngày càng nghiêm trọng. Có điều
này vì các nước đang phát triển không đủ tiềm lực để vừa phát triển kinh tế,
vừa xử lý hậu quả môi trường do sản xuất gây nên (thường đòi hỏi chi phí rất
cao). Mặt khác, chính toàn cầu hoá biến các nước đang phát triển như một
“bãi rác” khổng lồ chứa những công nghệ lạc hậu của thế giới- những công
nghệ chưa đủ chức năng bảo vệ môi trường.
Tốc độ xây dựng, phát triển cao cũng đòi hỏi các nước đang phát triển
phải tận dụng những tài nguyên của mình bởi nhập khẩu là điều phải hạn chế
tối đa (để phát triển nhanh nhất). Thêm vào đó, ý thức bảo vệ môi trường của
con người chưa cao, nhất là ở các nước, các khu vực nghèo của thế giới.
Những thảm hoạ về môi trường sinh thái đối với cuộc sống con người
xuất phát từ: ô nhiễm không khí(do khí CO2, mêtan từ khai thác gỗ làm giấy,
dầu lửa…), ô nhiễm đất(nặng nhất ở xung quanh các mỏ khoáng sản, vùng

19
nông nghiệp thâm canh, vùng lưu không dọc xa lộ, vùng có nhiều khu công
nghiệp tập trung, vùng chứa nhiều nước thải lâu năm…), ô nhiễm nguồn
nước(ô nhiễm nước ngầm, nước mặt như ao, hồ, sông, suối, ô nhiễm nước
biển… do rác thải công nghiệp, mưa khí quyển…).
* HIV/AIDS và các bệnh dịch
HIV/AIDS được coi là đại họa dịch bệnh lớn nhất của con người trong
thế kỷ 20. Loại virus HIV gây suy giảm hệ miễn dịch ở người và đến nay y
học nhân loại vẫn đang bó tay chưa tìm được thuốc phòng- chữa đã lây lan
nhanh chóng qua các châu lục và đến mọi nơi trên thế giới. Bởi không ai biết
chắc mình có phải là nạn nhân của loại virus này hay không và thời gian ủ
bệnh trước khi chuyển sang giai đoạn AIDS là rất lâu (7-10 năm) nên nguy cơ
lây lan và chết người của nó là vô cùng lớn. Hơn nữa, đây cũng là căn bệnh

đòi hỏi quá trình chữa bệnh khá tốn kém và kiên trì. Đây cũng là bệnh gây sự
kỳ thị ở nhiều xã hội, trong đó có Việt Nam nên người có HIV/AIDS không
những đứng trước nguy cơ kiệt quệ về tài chính do chữa bệnh mà còn rất có
thể bị mất việc làm, phân biệt đối xử và bị từ chối sự giúp đỡ từ cộng đồng và
gia đình.
Ngoài HIV/AIDS, nhân loại luôn đứng trước nguy cơ những dịch bệnh
phát sinh. Trong lịch sử loài người, dân số thế giới đã và đang bị khủng hoảng
khi đối mặt với dịch bệnh như tả, sốt rét, cúm gia cầm, SARS… Những dịch
bệnh này tấn công và gây thiệt hại mạnh nhất ở những người nghèo và những
người yếm thế trong xã hội, đặc biệt là trẻ em, phụ nữ và người già.
* Chiến tranh, nội chiến, xung đột sắc tộc, khủng bố
Hai cuộc chiến tranh thế giới đã làm vơi đi hàng trăm triệu người và rất
nhiều thế hệ trong các gia đình toàn thế giới.
Thế kỷ 20 cũng đã chứng kiến rất nhiều cuộc chiến tranh giành độc lập
dân tộc như chiến tranh Liên Xô, chiến tranh Việt Nam… Hậu quả của các

20
cuộc chiến tranh xâm lược là mất mát về vật chất của cả nước tham chiến và
nước bị xâm lược; về tinh thần của người dân và quân nhân hai bên; về những
thế hệ của người dân và quân nhân trong cuộc chiến. Như ở Việt Nam hiện
nay, di chứng chiến tranh vẫn còn ở những nạn nhân chất độc da cam(chất
khai quang) do quân đội Mỹ rải xuống trong chiến tranh Việt Nam. Hậu quả
chiến tranh rất nặng nề đối với người trực tiếp tham chiến, gia đình họ, dân
thường và toàn xã hội rất nhiều năm sau đó.
Thế kỷ 20 cũng là thảm họa của chế độ phân biệt chủng tộc A-pác-thai
và diệt chủng Pôn-pốt, thanh trừng sắc tộc ở Ruanda, Bosnia
Cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, thế giới liên tục chịu đựng những cuộc
xung đột sắc tộc và khủng bố ở khu vực Trung đông, Nam Á, Hoa Kỳ và
nhiều nước phương Tây khác. Hiện điểm nóng chiến sự thế giới vẫn còn ở Li-
băng, I- xra-en, Pa-let-xtin…

Giá của chiến tranh, xung đột, khủng bố bao giờ cũng là sinh mạng,
nhà cửa, cơ sở hạ tầng, thu nhập, việc làm, nước sạch, lương thực… Hậu quả
nặng nề nhất rơi vào phụ nữ và trẻ em.
* Bất bình đẳng xã hội
Phụ nữ hiện chiếm hơn 1/2 dân số thế giới nhưng phải gánh vác tới 2/3
công việc và nhận lại khoản thu nhập chỉ bằng 1/10 thu nhập của thế giới. Phụ
nữ sở hữu dưới 1% tài sản thế giới và 2/3 người mù chữ trên thế giới là phụ
nữ. Đây là những con số do Liên hợp quốc đưa ra phản ánh tình trạng bất bình
đẳng giới hiện nay trên toàn cầu.
Cùng với phụ nữ, trẻ em cũng là những đối tượng chịu thiệt thòi nhất.
Trẻ em có nguy cơ cao hơn người lớn đối với các loại dịch bệnh. Trẻ em
không được quan tâm dễ là nạn nhân của nạn thất học, nạn buôn người, nạn
đói, suy dinh dưỡng…

21
Người khuyết tật cũng là những người dễ bị phân biệt đối xử và có
khoảng cách với cuộc sống bình thường. Khoảng 3/4 người khuyết tật rơi vào
số người nghèo đến cực nghèo. Tại một số nước công nghiệp, tỷ lệ thất
nghiệp của người khuyết tật cao hơn gấp 2 so với người bình thường. Tại rất
nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, người khuyết tật ít có cơ hội
tiếp cận với các dịch vụ công cộng, nhất là trường học và cơ sở y tế, văn hoá
do thiếu phương tiện giao thông và công trình tiếp cận với người khuyết tật.
1.4. Vài nét về An sinh xã hội trên thế giới
Như đã nói ở phần Mở đầu, An sinh xã hội, hay an toàn sinh sống là
mong ước của mỗi con người, mỗi cộng đồng người ngay từ thủa hồng hoang.
Trong xã hội phương Đông, cơ chế gia đình, cộng đồng, làng mạc luôn che
chở, bao bọc, giúp đỡ các thành viên khó khăn là truyền thống văn hoá từ đời
này sang đời khác. Dưới thời phong kiến, giai cấp thống trị cũng đề ra những
chính sách giúp người yếu thế, có nhiều khó khăn như cô nhi, quả phụ, người
già.

Ở phương Tây, An sinh xã hội, tiếng Anh là “social security” hay trong
tiếng Mỹ là “welfare” nghĩa là “trợ cấp xã hội” hay “An sinh xã hội” là những
từ đã có từ rất lâu. Thời kỳ phong kiến, nông dân dựa vào sự ban phát của nhà
thờ và sự bố thí của lãnh chúa mỗi khi mùa màng thất bát, cuộc sống đói kém.
Khi chế độ phong kiến suy tàn, nhà thờ không đủ khả năng đối phó với nạn
nghèo đói tràn lan, năm 1601, ở nước Anh đã ban hành đạo luật Elizabeth cho
người nghèo, đây có thể coi là bộ luật an sinh đầu tiên ở thế giới phương Tây.
Khi một số nước chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ
nghĩa, hàng loạt sự thay đổi về chất và lượng trong lòng xã hội các nước đó
đã diễn ra trước và sau đó, kéo theo những vấn đề xã hội mới nảy sinh. Cuộc
cách mạng công nghiệp đầu thế kỷ XVIII khởi nguồn từ nước Anh đã một
mặt cải thiện sức sản xuất, tại ra nhiều của cải, hàng hoá phục vụ con người,
nhưng mặt khác lại nảy sinh nạn thất nghiệp, các hình thức tệ nạn xã hội, tình

22
trạng lạm dụng sức lao động trẻ em Công nghiệp hoá lan đến nông thôn,
làm nông dân mất đất kéo ra các đô thị công nghiệp, đem đến một gánh nặng
mới cho cộng đồng thành phố từ các khu nhà ổ chuột đến cuộc sống bấp bênh,
thu nhập thấp và các loại bệnh tật của những cư dân mới này. Để giải quyết
những vấn đề đó, những người làm công ăn lương đã lập nên các quỹ cứu tế,
các hội, đoàn đồng thời đấu tranh đòi giới chủ và Nhà nước phải trợ giúp,
đảm bảo cuộc sống cho họ.
Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều Bang đã thành lập quỹ ốm đau và
yêu cầu công nhân phải đóng góp để đề phòng khi thu nhập bị suy giảm, bệnh
tật hay tai nạn. Lúc đầu chỉ giới thợ tham gia, dần dần, hình thức bảo hiểm
này được mở rộng cho tất cả mọi người có nguy cơ rủi ro vì tuổi già, bệnh tật
hay do nghề nghiệp. Đến năm 1880, Chương trình An sinh xã hội được công
nhận đầu tiên tại Đức, khi nhận được sự ủng hộ của Thủ tướng Otto von
Bismarck. Chương trình không chỉ làm lợi cho công nhân mà còn đón đầu
chương trình của các phong trào xã hội và dành được sự ủng hộ của giai cấp

công nhân. Luật An sinh xã hội được thông qua ở Đức năm 1883 đã quy định
việc bắt buộc mua bảo hiểm ốm đau, do công nhân trả 2/3 và người sử dụng
lao động trả 1/3. Sau đó, bảo hiểm bắt buộc cũng áp dụng với hình thức bảo
hiểm tuổi già, do 3 bên: công nhân, chủ lao động và Chính phủ cùng chi trả,
được công nhận năm 1889. Tính chất đoàn kết và chia xẻ rủi ro này đã làm
tăng trách nhiệm của cả ba bên tham gia đóng bảo hiểm, đồng thời làm tăng
năng suất lao động. Tuy nhiên, Luật về bảo hiểm thất nghiệp mãi đến năm
1927 mới được thông qua
Sang những năm 30 của thế kỷ XX, mô hình An sinh xã hội của Đức
đã lan khắp châu Âu, sang các nước Mỹ La tinh, đến cả Bắc Mỹ và Ca-na-đa.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, An sinh xã hội trở thành lĩnh vực hoạt động
phổ biến ở các nước mới giành độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Ca-ri-bê.
Ngoài bảo hiểm xã hội, các hình thức giúp nhau như cứu trợ xã hội, tương tế

23
xã hội cũng được phát triển để giúp đỡ những người khó khăn như người già
cô đơn, trẻ mồ côi, người goá bụa Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, đề
phòng tai nạn, dịch vụ cho các đối tượng này cũng từng bước được mở rộng.
Hệ thống An sinh xã hội được hình thành và phát triển đa dạng dưới nhiều
hình thức khác nhau ở từng quốc gia trong các giai đoạn khác nhau.
Tại Anh, chương trình hành động Bảo hiểm quốc gia do David Lloyd
George xây dựng đã được thông qua năm 1911, cùng với đó, một chương
trình bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc và chương trình bảo hiểm ốm đau đã
được thiết lập. Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp lúc đó chỉ tính đến công chức
Chính phủ, y tá, công nhân làm việc ngoài giờ và những người có thu nhập
trên 250 bảng Anh/năm. Một chương trình bảo hiểm nhân mạng(bảo hiểm cho
những người sống sót sau các tai nạn) đã được thông qua năm 1925. Năm
1942, ngài William Henry Beveridge cũng giới thiệu với Quốc hội Anh một
kế hoạch mở rộng chương trình An sinh xã hội, phần lớn kế hoạch này được
thông qua sau thế chiến thứ II.

Pháp thông qua chương trình Bảo hiểm thất nghiệp tình nguyện năm
1905 và năm 1928 làm tiếp các kế hoạch bảo hiểm bắt buộc về tuổi già và ốm
đau. Trong khi đó, các chương trình An sinh xã hội đa dạng cũng được thực
hiện ở khắp châu Âu. Các chương trình này khác nhau giữa các quốc gia bởi
loại hình bảo hiểm, phân hạng công nhân, phần chi trả giữa công nhân, chủ
lao động và Chính phủ, các điều kiện để được nhận các trợ cấp, số lượng các
trợ cấp và cuối cùng là hiệu quả chung của chương trình. Năm 1922, Liên
bang Xô viết đã thông qua một kế hoạch An sinh xã hội tổng thể như một
phần của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Chi-lê trở thành nước châu Mỹ la tinh
đầu tiên có một chương trình An sinh xã hội.
Nước Mỹ không có An sinh xã hội cấp quốc gia cho tới năm 1935, khi
Luật An sinh xã hội được thông qua như một phần của chương trình quyết
sách mới của Tổng thống. Đạo luật quy định thực hiện chế độ bảo vệ người

24
già, chế độ tử tuất, tàn tật, trợ cấp thất nghiệp. Luật này đã tạo ra hai chương
trình bảo hiểm xã hội: một chương trình bồi thường thất nghiệp cấp bang- liên
bang và một chương trình cấp liên bang về bảo hiểm hưu trí cho người già.
Luật An sinh xã hội năm 1935 của Hoa Kỳ chỉ đề cập đến những công
nhân thuộc các ngành nghề thương mại và công nghiệp, nhưng sau đó, một
vài sửa đổi lớn đã làm tăng số lượng công nhân thuộc các ngành nghề khác
được hưởng nguồn trợ cấp này. Năm 1965, Quốc hội Mỹ ban hành chương
trình chăm sóc y tế, cung cấp các lợi ích về y tế cho người trên 65 tuổi, phối
hợp với chương trình trợ giúp y tế cho những người nghèo (không kể tuổi
tác). Một sự sửa đổi năm 1972 đã thắt chặt những sự gia tăng về lợi ích cho
người nghỉ hưu hưởng An sinh xã hội với sự gia tăng về chỉ số giá cả tiêu
dùng.
Năm 1941, tại Hiến chương Đại Tây dương và sau đó là Tổ chức Lao
động quốc tế (ILO) cũng đã chính thức sử dụng thuật ngữ “An sinh xã hội”
trong các công ước quốc tế. An sinh xã hội được thừa nhận là quyền của con

người.
Đến nay, An sinh xã hội phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới như
các hình thức tương trợ lẫn nhau, nhưng nhìn chung đều có chung thiết chế
chính thức đầu tiên là bảo hiểm xã hội. Vì thế mà cách hiểu An sinh xã hội là
bảo hiểm xã hội đôi khi vẫn bị nhầm lẫn. Hiện có nhiều mô hình An sinh xã
hội khác nhau ở mỗi nước, mỗi khu vực trên thế giới. Ví dụ như mô hình
“Nhà nước phúc lợi châu Âu” (các nước Đức, Hà Lan, Thuỵ Điển ) dựa trên
bảo hiểm bắt buộc và quyền của công dân được hưởng an sinh thu nhập, an
sinh tuổi già và an toàn sức khoẻ. Mô hình An sinh dựa trên bảo hiểm tự
nguyện và trợ giúp xã hội cho những người không có khả năng tự giúp mình
(bao gồm cả trợ cấp thất nghiệp) như ở Mỹ, Ca-na-đa, Úc. Mô hình an sinh
kết hợp giữa bảo hiểm xã hội bắt buộc dành cho khối chính thức với trợ giúp
Hà nội – 2006 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂNo0oNGUYỄN THỊ THU HƯỜNGBÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ AN SINHXÃ HỘI ( KHẢO SÁT QUA CÁC BÁO LAO ĐỘNG VÀ XÃ HỘI, LAO ĐỘNG, HÀNỘI MỚI TỪ NĂM 2005 – 2006 ) CHUYÊN NGÀNH : BÁO CHÍ HỌCMÃ SỐ : 60.32.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍNGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS. ĐINH VĂN HƯỜNGHÀ NỘI – 2006M ỤC LỤCMỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài … … … … … … … … … … … … … … … … 2. Lịch sử nghiên cứu và điều tra yếu tố … … … … … … … … … … … … … … … 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài4. Mục đích và trách nhiệm điều tra và nghiên cứu … … … … … … … … … … … … 105. Đối tượng và khoanh vùng phạm vi nghiên cứu và điều tra … … … … … … … … 116. Phương pháp điều tra và nghiên cứu … … … … … … … … … … … … … … … … 117. Kết cấu của luận văn … … … … … … … … … … … … … … … … … 12C hƣơng I : Một số yếu tố chung về An sinh xã hội131. 1. Khái niệm An sinh xã hội … … … … … … … … … … … … … … … 131.2. Đối tượng, tiềm năng, nội dung, quy mô An sinh xã hội … … … 171.3. Các yếu tố ảnh hưởng tác động đến An sinh xã hội … … … … … … … … 191.4. Vài nét về An sinh xã hội trên quốc tế … … … … … … … … … 231.5. An sinh xã hội ở Nước Ta … … … … … … … … … … … … … 281.5.1. Đặc điểm An sinh xã hội ở Nước Ta trong những thời kỳ … …. 291.5.2. Hệ thống chủ trương An sinh xã hội ở Nước Ta lúc bấy giờ … 321.5.3. Các bộ phận cấu thành của mạng lưới hệ thống An sinh xã hội ở ViệtNam … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … …. 34T iểu kết chƣơng I … … … … … … … … … … … … … … … … … … … 39C hƣơng II : Vai trò của báo chí trong việc phản ánh yếu tố An sinh xã hội412. 1. Vai trò của báo chí trong việc thông dụng chủ trương An sinh xãhội … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … 412.1.1. Hệ thống báo chí Nước Ta lúc bấy giờ … … … … … … … … 422.1.2. Báo chí tích cực tuyên truyền những yếu tố An sinh xã hội … …. 442.2. An sinh xã hội qua phản ánh của báo chí nói chung và những báoLao động, Lao động và Xã hội, TP.HN Mới ( 2005 – 2006 ) … … …. 482.2.1. Chính sách của Nhà nước về An sinh xã hội biểu lộ trên báoLao động và Xã hội, Lao động, TP.HN Mới … … … … … … … … … 502.2.2. Các tờ báo đăng tải những thông tin góp ý, phản hồi, dự báo, cảnh báo nhắc nhở tác động ảnh hưởng của những chủ trương An sinh xã hội … … … …. 592.2.3. Nhanh chóng đưa thông tin về những thảm hoạ và tham gia cácphong trào xã hội khắc phục hậu của của thảm họa … … … … … … 652.3. Một số số liệu thống kê khảo sát trên 3 tờ báo Lao động và Xãhội, Lao động, TP. Hà Nội Mới … … … … … … … … … … … … … … … 792.4. Dư luận xã hội so với những thông tin về An sinh xã hội trên báochí … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … 85T iểu kết Chƣơng II … … … … … … … … … … … … … … … … … … 87C hƣơng III : Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng và hiệu suất cao thông tin vềAn sinh xã hội trên báo chí893. 1 Nâng cao chất lượng thông tin về An sinh xã hội trên báo chí làvấn đề khách quan, bức thiết … … … … … … … … … … … … … … 893.2 Nhiệm vụ của những cơ quan báo chí trong việc tuyên truyền Ansinh xã hội … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … 943.3. Khó khăn của báo chí lúc bấy giờ trong việc biểu lộ thông tin vềAn sinh xã hội … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … 993.4. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm kinh nghiệm tay nghề … … … … … … … … … 1003.4.1. Nguyên nhân … … … … … … … … … … … … … … … … … … … 1003.4.2. Bài học kinh nghiệm tay nghề … … … … … … … … … … … … … … … … 1033.5. Một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về An sinh xãhội trên báo chí … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … 106T iểu kết Chƣơng III … … … … … … … … … … … … … … … … … 111K ẾT LUẬN … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … … 113T ÀI LIỆU THAM KHẢO … … … … … … … … … … … … … … … … 115M Ở ĐẦU1. Tính cấp thiết và nguyên do chọn đề tàiCuộc sống tân tiến đem lại cho con người ngày càng nhiều tiện nghisống nhưng cũng đang đặt ra nhiều yếu tố xã hội bức xúc : môi trường tự nhiên ônhiễm, bệnh tật, thiên tai, thất nghiệp, nghèo nàn Xã hội ngày này đang rấtquan tâm tới việc bảo vệ những người bị tổn thương, thiệt thòi, yếu thế do hậuquả của những rủi ro tiềm ẩn này gây ra. Đại bộ phận những vương quốc trên quốc tế đều tổchức những hoạt động giải trí, đưa ra những chính sách, chủ trương nhằm mục đích hoặc là ngănngừa, quản trị những khó khăn vất vả, hoặc giúp con người vượt qua khó khăn vất vả. Những chính sách, chủ trương, dịch vụ hay những hoạt động giải trí của nhà nước và của xãhội nhằm mục đích cung ứng nhu yếu được bảo đảm an toàn sinh sống gọi là An sinh xã hội. Nếu nhìn lại quy trình tăng trưởng của xã hội loài người, hoàn toàn có thể nhậnthấy, dưới bất kể tiến trình lịch sử vẻ vang nào, con người cũng có mong ước đượcsinh sống bảo đảm an toàn. Nhưng những tai hoạ đến từ tự nhiên, xã hội hay chính conngười khiến mỗi người đều phải đối lập với những rủi ro tiềm ẩn mất bảo đảm an toàn chocuộc sống của mình. Chính do đó, ở mỗi thời đại, mỗi xã hội hay mỗi conngười nói riêng đều có những phương pháp khác nhau để khắc phục những nguycơ và thiệt hại đó. Trong xã hội tân tiến, ngoài những chính sách, chủ trương, dịchvụ, hoạt động giải trí của nhà nước và xã hội, người ta còn biết đến những rủi ro đáng tiếc vàcách khắc phục qua một phương tiện đi lại rất hữu hiệu là tiếp thị quảng cáo đại chúng. Các phương tiện đi lại truyền thông online đại chúng có vai trò đặc biệt quan trọng quan trọngtrong việc phản ánh An sinh xã hội. Vai trò đó được bộc lộ ở chỗ báo chílà phương tiện đi lại của những thiết chế xã hội nhằm mục đích bảo vệ phổ cập thông tin trênquy mô đại chúng về mạng lưới hệ thống những chủ trương, đường lối của Nhà nước về Ansinh xã hội ; đồng thời là forum cho toàn dân biểu lộ, tập hợp những quan điểm, kinh nghiệm tay nghề xử lý những yếu tố An sinh xã hội cũng như là phương tiệnkêu gọi sự trợ giúp của toàn xã hội so với mỗi cá thể đang gặp khó khăn vất vả. An sinh xã hội là cụm từ tương đối mới ở Nước Ta. Tuy nhiên, đây lạilà trách nhiệm luôn được Đảng và Nhà nước đặt lên số 1 trong khi xâydựng những chủ trương về xã hội. Lịch sử của dân tộc bản địa Nước Ta gắn liền với những cuộc đấu tranh giànhđộc lập và bảo vệ Tổ quốc, chống thù trong, giặc ngoài. Trong những cuộc đấutranh, không những những khu công trình tự nhiên và xã hội bị tàn phá, mà ngườidân Nước Ta cũng phải gánh chịu mất mát rất lớn về người và của. Thậmchí, những di chứng cuộc chiến tranh còn để lại qua rất nhiều thế hệ, như ảnhhưởng của chất độc hoá học do quân đội Mỹ rải xuống trong thời kỳ chiếntranh Nước Ta. Hơn 30 năm sau cuộc chiến tranh, Nước Ta đã và đang tự khắc phục nhữngvết thương và đang tăng trưởng mọi mặt. Hệ thống An sinh xã hội được hìnhthành ngay từ khi Nhà nước Nước Ta dân chủ cộng hoà được xây dựng đangngày càng được triển khai xong. Những năm qua, đặc biệt quan trọng kể từ sau thời kỳ đổimới, Nước Ta đã kiến thiết xây dựng được một mạng lưới hệ thống những chủ trương An sinh xã hộikhá rộng khắp và còn liên tục tăng trưởng mạng lưới hệ thống An sinh xã hội với mụcđích : “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công minh, dân chủ, văn minh ”, mang lạicuộc sống ấm no, niềm hạnh phúc cho mỗi người dân. Chẳng hạn như những chínhsách so với thương bệnh binh, thương bệnh binh, mái ấm gia đình liệt sĩ và người có công vớicách mạng ; chủ trương xoá đói giảm nghèo ; chủ trương so với những vùngđặc biệt khó khăn vất vả, vùng gặp thiên tai … Bên cạnh những chủ trương, Nhà nước và toàn dân còn tăng trưởng nhữngphong trào và mạng lưới hệ thống dịch vụ để phần nào bảo vệ an sinh, bảo đảm an toàn xã hộicho mọi người dân. Báo chí Nước Ta là lời nói của Đảng và Nhà nước, forum củanhân dân, đã vào cuộc với những bài viết, tin, ảnh đa dạng chủng loại, mê hoặc và cậpnhật về nội dung An sinh xã hội. Báo chí nhìn chung đã update được cácchính sách, chủ trương mới của Đảng, Nhà nước và những trào lưu, hoạt độngcủa xã hội về những nghành tương quan đến An sinh xã hội. Tuy nhiên, để phảnánh những yếu tố An sinh xã hội thật sự có hiệu suất cao, báo chí cần có nhữnghướng đi tích cực hơn nữa. Qua khảo sát 3 tờ báo Lao động, Lao động và Xã hội, TP.HN Mới trongthời gian từ tháng 1/2005 đến tháng 11/2006, luận văn kỳ vọng làm rõ phầnnào vai trò của báo chí nói chung trong việc phản ánh những yếu tố về An sinhxã hội, đồng thời rút ra những nhận xét bắt đầu nhằm mục đích đưa ra những gợi ý choviệc thông tin nghành nghề dịch vụ này tốt hơn trên báo chí. Với tầm quan trọng và ý nghĩa cấp thiết như vậy nên tôi chọn đề tài “ Báo chí với yếu tố An sinh xã hội ” để triển khai luận văn thạc sỹ báo chícủa mình. 2. Lịch sử nghiên cứu và điều tra yếu tố : Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu và điều tra về An sinh xã hộitương đối mới lạ ở nước ta. Hiện nay, mới chỉ có một số ít trường ĐH cóbộ môn và có giáo trình ” An sinh xã hội ” hoặc giảng dạy chuyên đề này làtrường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, trường Đại học Lao động – Xã hội, HàNội và trường Đại học Kinh tế Quốc dân Thành Phố Hà Nội. Về báo chí học, đề tàinghiên cứu mối quan hệ giữa báo chí và những yếu tố An sinh xã hội cũng chưatừng có trước đây. Chính do đó, trong quy trình chon lựa và nghiên cứu và điều tra đề tài, chúng tôi có rất ít nguồn tư liệu trong nước để tìm hiểu thêm, ngoài giáo trình củacác trường ĐH trên ( chưa hề đề cập đến sự phản ánh An sinh xã hội trênbáo chí ). Chủ yếu tư liệu chúng tôi thu nhập được qua những tài liệu về An sinhxã hội quốc tế, những văn bản, chủ trương của Nhà nước và tác dụng khảo sáttrên những tờ báo nói chung và 3 tờ báo trên nói riêng. 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài : Đề tài luận văn tương đối mới trong lý luận báo chí học, mở ra mộthướng nghiên cứu và điều tra về nghành đang rất được xã hội chăm sóc và cũng là chủtrương lớn của Đảng, Nhà nước, đó là An sinh xã hội và sự biểu lộ An sinhxã hội trên báo chí. Qua việc điều tra và nghiên cứu lý luận về An sinh xã hội, khảo sát việc phản ánhAn sinh xã hội trên 1 số ít tờ báo, luận văn đưa ra những ý niệm, nguyêntắc, chiêu thức thực thi chớp lấy không thiếu ý nghĩa của An sinh xã hội quakênh thông tin đại chúng, ship hàng cho việc nghiên cứu và điều tra, quản trị và ứng dụnghệ thống An sinh xã hội ở Nước Ta ở tầm vĩ mô cũng như thấy được tầmquan trọng của mạng lưới hệ thống này so với toàn xã hội và mỗi người dân. Luận văn là một tài liệu tìm hiểu thêm, góp thêm phần vào mạng lưới hệ thống tư liệu khoahọc chung về báo chí-truyền thông, nhằm mục đích phục công tác làm việc nghiên cứu và điều tra, giảngdạy, học tập về báo chí lúc bấy giờ. Đây cũng là tài liệu tìm hiểu thêm thoáng rộng cho những cơ quan chỉ huy vàquản lý báo chí, những cơ quan báo chí và mọi người chăm sóc đến nghành Ansinh xã hội, tình hình bộc lộ An sinh xã hội trên báo chí và một số ít giảipháp trong bước đầu nâng cao hiệu suất cao tuyên truyền, phản ánh nghành nghề dịch vụ An sinh xãhội trên báo chí lúc bấy giờ. 4. Mục đích và trách nhiệm nghiên cứuLuận văn nhằm mục đích những mục tiêu sau : – Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích những tư liệu, tài liệu về An sinh xã hội và thực tiễnAn sinh xã hội ở nước ta, luận văn trong bước đầu thiết kế xây dựng những yếu tố lýluận cơ bản về An sinh xã hội ; những giải pháp nghiên cứu và điều tra về An sinh xãhội ; khảo sát hoạt động giải trí thực tiễn báo chí về nghành nghề dịch vụ An sinh xã hội cũngnhư tác động ảnh hưởng phản ánh về nghành này của báo chí so với công chúng báochí. – Luận văn đồng thời nghiên cứu và phân tích, tổng kết thực tiễn việc triển khai cácchính sách, trào lưu An sinh xã hội và hiệu suất cao của mạng lưới An sinh xãhội ở nước ta ; mối quan hệ qua lại giữa An sinh xã hội và báo chí để đưa ranhững đề xuất kiến nghị, giải pháp nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao tuyên truyền an sinh sinhxã hội trên báo chí. – Luận văn cũng mở ra một hướng điều tra và nghiên cứu, tiếp cận so với lý luậnvà thực hành thực tế báo chí – truyền thông online tân tiến nói chung, góp thêm phần nâng caohiệu quả tuyên truyền của báo chí. 5. Đối tƣợng và khoanh vùng phạm vi nghiên cứuĐối tượng điều tra và nghiên cứu : Đối tượng nghiên cứu và điều tra của luận văn là những quan điểm lý luận chungvề An sinh xã hội và báo chí trong việc phản ánh An sinh xã hội qua những tàiliệu về An sinh xã hội và báo chí. Luận văn cũng nghiên cứu và điều tra sơ khảo nền An sinh xã hội ở Nước Ta vàcách thức tiếp cận mạng lưới hệ thống An sinh xã hội ở Nước Ta lúc bấy giờ. Phạm vi nghiên cứu và điều tra : An sinh xã hội là khái niệm rộng và mới ở Nước Ta lúc bấy giờ. Lĩnhvực An sinh xã hội gồm có nhiều mảng công tác làm việc khác nhau. Phản ánh những sựkiện tương quan đến An sinh xã hội là trách nhiệm chung của mọi cơ quan báochí. Trong khuôn khổ luận văn khoa học, chúng tôi chỉ tập trung chuyên sâu nghiên cứuvấn đề An sinh xã hội được phản ánh trên 3 tờ báo Lao động, Lao động và Xãhội, TP.HN Mới trong thời hạn từ tháng 1/2005 đến tháng 11/2006. Luận văn cũng tìm hiểu thêm quan điểm 1 số ít chuyên viên về nghành nghề dịch vụ An sinhxã hội và một số ít cơ quan báo chí để rút ra những nhận xét và góp ý để tăngtính hiệu suất cao thông tin về An sinh xã hội trên báo chí. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu10Luận văn được triển khai trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê ninvà tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng vàNhà nước về An sinh xã hội và sự nghiệp thông tin đại chúng. Cơ sở điều tra và nghiên cứu thực tiễn của luận văn là thực tiễn phản ánh An sinhxã hội trên báo chí những năm gần đây. Thưc hiện luận văn là quy trình tinh lọc, kiểm tra và giải quyết và xử lý những tài liệuthu thập được từ đối tượng người dùng và khoanh vùng phạm vi nghiên cứu và điều tra. Đề tài xác lập bước đầunhững cơ sở lý luận của việc điều tra và nghiên cứu An sinh xã hội, nhìn nhận thực tiễnvai trò phản ánh An sinh xã hội và ảnh hưởng tác động của việc phản ánh nghành nàyđối với dư luận qua việc khảo sát 4 tờ báo, tạp chí. Đề tài sử dụng giải pháp nghiên cứu và phân tích, thống kê, so sánh, lấy ý kiếnchuyên gia để lý giải yếu tố. Đề tài thừa kế một cách có tinh lọc nhữngnghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế có tương quan đến đề tài. 7. Kết cấu của luận vănNgoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tìm hiểu thêm, phần Nội dung củaluận văn gồm có 3 chương sau đây : Chương I : Một số yếu tố chung về An sinh xã hội. Chương II : Vai trò của báo chí trong việc phản ánh An sinh xã hội ( khảo sát qua những báo Lao động, Lao động và Xã hội, Thành Phố Hà Nội Mới từ 2005 – 2006 ). Chương III : Một số giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu suất cao thôngtin An sinh xã hội trên báo chí. Nội dung chính của luận văn sẽ được trình diễn Theo những chương, mụctrên. 11CH ƢƠNG IMỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ AN SINH XÃ HỘI1. 1. Khái niệm An sinh xã hội ” An sinh ” là một từ Hán-Việt. An – trong chữ “ bảo đảm an toàn ”, Sinh – trong chữ “ sinh sống ”, an sinh hoàn toàn có thể được hiểu là “ bảo đảm an toàn sinh sống ”. Như vậy, có thểnói một cách khái lược, đơn thuần nhất : xã hội an sinh là một xã hội mà mọingười được bảo đảm an toàn sinh sống, hay là có đời sống bảo đảm an toàn. Trong ý niệm về quy luật tự nhiên – xã hội – con người của triết họcphương Đông, An sinh xã hội bắt nguồn từ chính những rủi ro đáng tiếc trong cuộc đờicủa mỗi con người. Rủi ro hoàn toàn có thể đến với bất kỳ ai, bất kể khi nào. Sự rủi rođó hoàn toàn có thể bắt nguồn từ quy luật sống của con người “ sinh-lão-bệnh-tử ”, nhưngcũng hoàn toàn có thể do những nguyên do khách quan ngoài tầm trấn áp của mỗicá nhân như : thiên tai, cuộc chiến tranh, … Dưới thời đại tiền công nghiệp, khi đại bộ phận người dân sống nhờvào nông nghiệp, lao động tập trung chuyên sâu ít, thiết chế mái ấm gia đình còn vững mạnh, hệthống tôn giáo có lời nói quyền lực tối cao nhất định, thì sự hoá giải những rủi rophụ thuộc nhiều từ phía mái ấm gia đình và tôn giáo. Trong xã hội công nghiệp hiệnđại, những yếu tố xã hội ngày càng phát sinh phức tạp, ngày càng nhiều rủiro đe doạ đời sống của mỗi mái ấm gia đình, mỗi con người như xung đột sắc tộc, những bệnh tật mới chưa có thuốc chữa, mất cân đối sinh thái xanh dẫn đến môitrường sống của con người bị ảnh hưởng tác động trầm trọng, những tệ nạn xã hộiChính do đó, An sinh xã hội luôn được đặt ra như một chương trình tầm cỡquốc gia, thậm chí còn toàn thế giới. Những chính sách, chủ trương, dịch vụ hay những hoạtđộng của Nhà nước và xã hội nhằm mục đích phân phối nhu yếu được an toàn sinh sốngđược gọi là An sinh xã hội. Trên quốc tế, An sinh xã hội là từ rất phổ cập, đặc biệt quan trọng là ở những quốcgia công nghiệp tăng trưởng. Trong tiếng Anh, từ này thường được dùng là12 ” social security ” ( bảo đảm an toàn xã hội ). Đây là khái niệm được dùng trong hệ thốngluật pháp, những giáo trình học, từ điển và những dịch vụ xã hội khác. Có thể thấyrất nhiều định nghĩa về cụm từ này trong những từ điển quốc tế. Theo website investorwords.com ( Mỹ ), An sinh xã hội nghĩa là “ Chương trình toàn liên bang về trợ cấp cho công nhân và những người sốngphụ thuộc vào họ những khoản như lương hưu, trợ cấp cho người khuyết tậtvà những chi trả khác của họ. Thuế An sinh xã hội được dùng để chi trả chochương trình này ”. Từ điển Answers. com lại cho rằng : “ An sinh xã hội là chương trình củaChính phủ nhằm mục đích trợ giúp kinh tế tài chính cho những người đang phải đương đầu với nạnthất nghiệp, khuyết tật, tuổi già. Nguồn kinh phí đầu tư được chi trả từ những ngườiđang thao tác và người sử dụng lao động ”. Bách khoa toàn thư Britannica lại cho một định nghĩa rất dài, kèmthêm lịch sử vẻ vang sinh ra của khái niệm này : “ An sinh xã hội là những nguồn cungcấp của hội đồng nhằm mục đích bảo vệ bảo đảm an toàn kinh tế tài chính và phúc lợi xã hội cho tấtcả những cá thể và mái ấm gia đình họ, đặc biệt quan trọng trong trường hợp bị mất thu nhậpdo thất nghiệp, bị thương do lao động, sinh đẻ, ốm đau, tuổi già và cái chết. An sinh xã hội không riêng gì bao hàm bảo hiểm xã hội mà còn những dịch vụ y tế, phúc lợi và những chương trình duy trì nguồn thu nhập được kiến thiết xây dựng đểtăng phúc lợi của người thụ hưởng trải qua những dịch vụ xã hội. Một số hìnhthức tổ chức triển khai hợp tác về bảo vệ kinh tế tài chính cho những cá thể bắt đầu hình thànhbởi những hiệp hội công nhân, những đoàn thể có quyền lợi ràng buộc lẫn nhau vàcác liên đoàn lao động. Mãi đến thế kỷ 19 – 20, An sinh xã hội mới được banhành thành luật thoáng rộng, quy mô tiên phong Open ở Đức năm 1883. Hầuhết những vương quốc tăng trưởng lúc bấy giờ đều có những chương trình An sinh xã hộinhằm cung ứng những quyền lợi hay dịch vụ trải qua 1 số ít kênh chính như bảohiểm xã hội và trợ giúp xã hội – chương trình theo nhu yếu dành riêng chongười nghèo ”. 13B ách khoa toàn thư của Đại học Columbia ( Mỹ ) cho rằng, “ An sinh xãhội là chương trình nhà nước nhằm mục đích cung ứng sự bảo đảm an toàn kinh tế tài chính và phúc lợicho cá thể và những người nhờ vào vào họ. Chương trình được xây dựngkhác nhau ở mỗi vương quốc do những ý niệm về An sinh xã hội khác nhaucủa những nước đó, nhưng tổng thể đều do lao lý nhà nước pháp luật vàđều được phong cách thiết kế nhằm mục đích phân phối một số ít khoản tiền để chi trả cho việc mấthoặc suy giảm thu nhập “. An sinh xã hội trong thông lệ quốc tế còn được hiểu như một quyền củacon người. Hiến chương Đại Tây Dương khẳng định chắc chắn : ” An sinh xã hội đượchiểu theo nghĩa rộng là sự bảo vệ thực thi quyền con người trong hoàbình, được tự do làm ăn, cư trú, vận động và di chuyển, tăng trưởng chính kiến trong khuônkhổ pháp lý, được học tập, thao tác và nghỉ ngơi, có nhà ở, được chăm sócy tế và bảo vệ về thu nhập để thoả mãn những nhu yếu sinh sống thiết yếukhi bị rủi ro đáng tiếc, thai sản, tuổi già “. Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hiệp quốc được thôngqua ngày 10/12/1948 có đoạn : ” Tất cả mọi người với tư cách là thành viêncủa xã hội có quyền hưởng An sinh xã hội. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoảmãn những quyền về kinh tế tài chính, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự dophát triển con người … ” và ” Mỗi người có quyền có một mức sống cần thiếtcho việc giữ gìn sức khoẻ cho bản thân và mái ấm gia đình, có quyền được bảo đảmtrong trường hợp thất nghiệp … “. Ngoài những định nghĩa chung đó, theo những quan điểm của một sốchuyên gia, An sinh xã hội hoàn toàn có thể được định nghĩa theo 2 góc nhìn : hẹp và rộng. * An sinh xã hội theo nghĩa hẹp : + “ An sinh xã hội theo nghĩa hẹp là những khoản trợ cấp và những dịchvụ giúp cho con người cung ứng nhu yếu cơ bản là sự vận động và di chuyển những phúclợi bên ngoài thị trường ” ( Tiến sỹ Darkwa, trường Đại học Tổng hợpIlinois, Chicago, bài giảng “ Nhập môn An sinh xã hội ” ). 14 + “ An sinh xã hội là công dụng phi doanh thu của xã hội, Nhà nước vàgiới tình nguyện nhằm mục đích mục tiêu xoá bỏ sự đói rách, những tình cảnh bầncùng hoá của xã hội ” ( Dolgilf Feldstein, 1993 ). + “ An sinh xã hội là những quy tắc để trợ cấp cho những người cần tớisự trợ giúp để cung ứng nhu yếu cơ bản trong đời sống như việc làm, thunhập, lương thực, thực phẩm, y tế và mối quan hệ ” ( Karger và Soesz, 1990 ). * An sinh xã hội theo nghĩa rộng : + “ An sinh xã hội là một bộ phận cấu thành của chủ trương xã hộiđược coi là chính thức và là sự lao lý tương thích với những yếu tố của conngười ” ( Karger và Soesz, 1994 ). + “ An sinh xã hội là bất kỳ điều gì Nhà nước quyết định hành động làm và khônglàm vì chất lượng đời sống của công dân nước đó ” ( Dinikito, 1991 ). + “ An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội dành cho những thành viên củamình trải qua 1 số ít giải pháp công cộng nhằm mục đích đối phó với những khókhăn về kinh tế tài chính và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập một cách đángkể vì ốm đau, thai sản, tai nạn thương tâm lao động, thất nghiệp, tuổi già hoặc chết, đồngthời bảo vệ chăm nom y tế và trợ cấp cho những mái ấm gia đình đông con ” ( Côngước 102 ( Công ước về An sinh xã hội, 1952 ) củaTổ chức Lao động Quốc tế ( ILO ) ). + “ An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội so với công dân thông quacác giải pháp công cộng nhằm mục đích giúp họ khắc phục những khó khăn vất vả về kinh tếvà xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập từ nguyên do ốm đau, thai sản, tai nạn đáng tiếc lao động, thất nghiệp, tàn tật, người già đơn độc, trẻ mồ côi đồng thờiđảm bảo chăm nom y tế và trợ cấp cho mái ấm gia đình đông con ” ( Từ điển Báchkhoa Nước Ta toàn tập, 1995 ). Tóm lại, An sinh xã hội là một tấm lưới chắn, hay một chiếc ô đảm bảoan toàn cho xã hội và con người, hoàn toàn có thể hiểu theo hai nghĩa : 15A n sinh xã hội ở nghĩa hẹp là sự tương hỗ bằng vật chất, niềm tin, cácdịch vụ xã hội của Nhà nước, hội đồng xã hội cho những đối tượng người tiêu dùng ( cánhân, mái ấm gia đình, hội đồng ) bần hàn, yếu thế, dễ bị tổn thương, khi họ gặpkhó khăn để phân phối nhu yếu cơ bản của con người. An sinh xã hội ở nghĩa rộng là mạng lưới hệ thống chủ trương, pháp lý, chương trình dịch vụ xã hội được Nhà nước, thị trường và cộng đồngthực hiện bằng nguồn ngân sách Nhà nước, góp phần của người lao độngvà người sử dụng lao động nhằm mục đích nâng cao năng lượng của dân cư, giađình và hội đồng bảo vệ để tăng cường năng lực ngăn ngừa, giảm nhẹvà đối phó với rủi ro đáng tiếc. 1.2. Đối tƣợng, tiềm năng, nội dung, quy mô An sinh xã hộiTừ định nghĩa, hoàn toàn có thể rút ra những đặc thù : * Đối tƣợng của An sinh xã hội : Là những cá thể, nhóm, hội đồng, không phân biệt giới tính, thành phần xã hội, tôn giáo, sắc tộc, màu da bị rơivào những thực trạng khó khăn vất vả không bình thường. An sinh xã hội đặc biệt quan trọng được thiếtkế cho những nhóm dễ bị tổn thương nhất như phụ nữ, trẻ nhỏ, người già, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệtkhó khăn … * Mục tiêu của An sinh xã hội : Cải thiện thiên nhiên và môi trường, đời sống củacon người, tăng năng lực của những cá thể, nhóm, hội đồng trong việc ngănngừa, giảm nhẹ và đối phó hữu hiệu với những rủi ro đáng tiếc. Hoàn thiện mạng lưới hệ thống luậtpháp về An sinh xã hội cấp vương quốc, khu vực, quốc tế, đặc biệt quan trọng là những dịch vụcông cộng để can thiệp kịp thời, phòng ngừa, quản trị những thiên tai, rủi ro đáng tiếc khigia đình, cá thể, nhóm, hội đồng không hề ứng phó được. * Nội dung và những giải pháp của An sinh xã hội : Các chính sáchđiều tiết hợp lý thu nhập của những cá thể trong xã hội, sử dụng những nguồnđóng góp ( như thuế, bảo hiểm, hoạt động tự nguyện … ) của người lao động, 16 chủ sử dụng lao động để tái phân phối cho nguồn lực chung trong nhữngtrường hợp cần trợ giúp để bảo vệ bảo đảm an toàn xã hội cho người dân thông quatrợ cấp thất nghiệp, trợ cấp ốm đau, bảo hiểm y tế … cho người lao động bịgặp rủi ro đáng tiếc và người trong mái ấm gia đình sống nhờ vào vào họ. * Trách nhiệm thực thi An sinh xã hội : Các cá thể, mái ấm gia đình, cộngđồng, những tổ chức triển khai phi chính phủ, những doanh nghiệp, Nhà nước … * Cấu trúc của mạng lưới hệ thống An sinh xã hội : Khác nhau nhờ vào vàocách chia của từng vương quốc. Phổ biến là chia mạng lưới hệ thống An sinh xã hội theo 3 tầng : 1. Phát triển những dịch vụ xã hội cơ bản để mọi người dân được hưởngthị, tăng trưởng và ngăn ngừa rủi ro đáng tiếc. 2. Phát triển bảo hiểm, bảo hiểm xã hội vànhiều cơ chế thị trường khác gắn với việc làm của người lao động. 3. Trợ giúpđặc biệt dành cho những người ( và người nhờ vào vào họ ) rơi vào hoàn cảnhđặc biệt khó khăn vất vả nằm ngoài năng lực giúp sức của mái ấm gia đình, hội đồng. Nghiên cứu An sinh xã hội là điều tra và nghiên cứu những quy luật chi phối vàgây rủi ro tiềm ẩn đến nhu yếu cá thể, nhóm, hội đồng dễ bị tổn thương ; đồngthời điều tra và nghiên cứu những quy luật của xã hội và những giải pháp xã hội đểphòng ngừa, giảm thiểu những rủi ro tiềm ẩn, phân phối những nhu yếu cơ bản củacác cá thể, nhóm, hội đồng này. Nghiên cứu, phản ánh An sinh xã hộicũng là hình thức nghiên cứu và điều tra những tác động ảnh hưởng qua lại giữa kiến trúc thượngtầng và hạ tầng, quy luật tổ chức triển khai xã hội, quản trị xã hội … Nói chung, hiểu và phản ánh về An sinh xã hội tức là chớp lấy được những góc nhìn của Ansinh xã hội, phản ánh ở phương diện cá thể ( người, nhóm, hội đồng ) yếmthế và những giải pháp, chương trình công cộng và mạng lưới hệ thống trợ giúp xã hộicủa một vương quốc, khu vực hay toàn thế giới. Để hiểu rõ khái niệm An sinh xã hội, phải nắm được những yếu tố : – Khái niệm, phạm trù về An sinh xã hội ; sự tăng trưởng nhận thức về An sinhxã hội gắn với mỗi tiến trình lịch sử vẻ vang nhất định. 17 – Ý nghĩa, vai trò của An sinh xã hội trong đời sống cá thể, nhóm, cộngđồng, xã hội và toàn trái đất. – Những yếu tố xã hội trong khoanh vùng phạm vi vương quốc, quốc tế, ảnh hưởng tác động ( tích cực, tiêucực ) đến mạng lưới hệ thống an sinh vương quốc, quốc tế. – Lịch sử hình thành, tăng trưởng An sinh xã hội và quy mô An sinh xã hội ởmột số nước, khu vực trên quốc tế, trong đó có Nước Ta. – Hệ thống pháp lý An sinh xã hội của pháp luật quốc tế, một số ít nước điểnhình và Nước Ta. – Bộ máy Nhà nước và những thiết chế xã hội triển khai An sinh xã hội ở ViệtNam. – Nguồn lực kinh tế tài chính thực thi An sinh xã hội ở Nước Ta. – Hệ thống An sinh xã hội ở Nước Ta với nét đặc trưng riêng, trong hệ thốngAn sinh xã hội chung ( lao lý bởi điều kiện kèm theo, thiên nhiên và môi trường lịch sử vẻ vang, xã hội, vănhoá, truyền thống cuội nguồn, kinh tế tài chính, tư tưởng … ). Nắm rõ khái niệm An sinh xã hội là chìa khoá giúp những phóng viên báo chí viếtvề An sinh xã hội làm chủ được nội dung và phương hướng tuyên truyền chobài viết của mình. 1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến An sinh xã hộiXã hội như một khung hình, được cấu thành bởi muôn vàn tế bào và cấutrúc, trong đó có những cá thể, mái ấm gia đình, nhóm, hội đồng, giai tầng … cùngvới những mối quan hệ phức tạp xen kẽ và những quy luật hoạt động, tăng trưởng. Con người nói chung đều chịu ảnh hưởng tác động của môi trường tự nhiên sống trong cuộc đờimình, đó là môi trường tự nhiên tự nhiên, xã hội. Trong thiên nhiên và môi trường sống đó, conngười luôn có năng lực chịu những rủi ro đáng tiếc, hiểm hoạ. Bên cạnh những nguy cơđến từ tự nhiên như lũ lụt, bão, núi lửa, tuổi già và cái chết … Thì bản thâncon người và xã hội cũng vô tình hoặc hữu ý tạo ra những rủi ro tiềm ẩn không an tâm choAn sinh xã hội. Dưới đây là một số ít rủi ro tiềm ẩn đã được thống kê : 18 * Toàn cầu hoá và nghèo đóiBên cạnh những thời cơ như giao lưu văn hoá, giao thương mua bán Open, chuyển giao công nghệ tiên tiến, tri thức … toàn cầu hoá cũng mang lại những khoảngcách giàu – nghèo ngày một lớn và rủi ro tiềm ẩn những nước nghèo càng nghèo hơndo bị nền kinh tế tài chính – thương mại của nước giàu chi phối. Hậu quả là số lượngngười thất nghiệp, phá sản tăng, người nghèo tăng và những hộ kinh doanh nhỏcũng như những mái ấm gia đình trung lưu trở xuống dễ bị tổn thương. * Môi trƣờng, thảm hoạ, sinh tháiKinh tế – thương mại – khoa học – công nghệ càng tăng trưởng thì nguy cơmôi trường sống của con người và những sinh vật khác trên quốc tế bị tàn phácàng cao. Một trong thực tiễn đáng buồn là khi những nước tăng trưởng đã có nền kinh tế tài chính, tri thức và tiềm năng đủ mạnh để bảo tồn vạn vật thiên nhiên, môi trường tự nhiên sống củangười dân nước mình ( điều kiện kèm theo sống của họ rất cao – cả về thu nhập và môitrường sống ), thì ở những nước đang tăng trưởng – nơi chiếm phần đông dân sốthế giới, môi trường tự nhiên sống đang bị đe doạ ngày càng nghiêm trọng. Có điềunày vì những nước đang tăng trưởng không đủ tiềm lực để vừa tăng trưởng kinh tế tài chính, vừa giải quyết và xử lý hậu quả thiên nhiên và môi trường do sản xuất gây nên ( thường yên cầu ngân sách rấtcao ). Mặt khác, chính toàn cầu hoá biến những nước đang tăng trưởng như một ” bãi rác ” khổng lồ chứa những công nghệ tiên tiến lỗi thời của quốc tế – những côngnghệ chưa đủ công dụng bảo vệ thiên nhiên và môi trường. Tốc độ thiết kế xây dựng, tăng trưởng cao cũng yên cầu những nước đang phát triểnphải tận dụng những tài nguyên của mình bởi nhập khẩu là điều phải hạn chếtối đa ( để tăng trưởng nhanh nhất ). Thêm vào đó, ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên củacon người chưa cao, nhất là ở những nước, những khu vực nghèo của quốc tế. Những thảm hoạ về môi trường sinh thái so với đời sống con ngườixuất phát từ : ô nhiễm không khí ( do khí CO2, mêtan từ khai thác gỗ làm giấy, dầu lửa … ), ô nhiễm đất ( nặng nhất ở xung quanh những mỏ tài nguyên, vùng19nông nghiệp thâm canh, vùng lưu không dọc xa lộ, vùng có nhiều khu côngnghiệp tập trung chuyên sâu, vùng chứa nhiều nước thải lâu năm … ), ô nhiễm nguồnnước ( ô nhiễm nước ngầm, nước mặt như ao, hồ, sông, suối, ô nhiễm nướcbiển … do rác thải công nghiệp, mưa khí quyển … ). * HIV / AIDS và những bệnh dịchHIV / AIDS được coi là đại họa dịch bệnh lớn nhất của con người trongthế kỷ 20. Loại virus HIV gây suy giảm hệ miễn dịch ở người và đến nay yhọc trái đất vẫn đang bó tay chưa tìm được thuốc phòng – chữa đã lây lannhanh chóng qua những lục địa và đến mọi nơi trên quốc tế. Bởi không ai biếtchắc mình có phải là nạn nhân của loại virus này hay không và thời hạn ủbệnh trước khi chuyển sang tiến trình AIDS là rất lâu ( 7-10 năm ) nên nguy cơlây lan và chết người của nó là vô cùng lớn. Hơn nữa, đây cũng là căn bệnhđòi hỏi quy trình chữa bệnh khá tốn kém và kiên trì. Đây cũng là bệnh gây sựkỳ thị ở nhiều xã hội, trong đó có Nước Ta nên người có HIV / AIDS khôngnhững đứng trước rủi ro tiềm ẩn kiệt quệ về kinh tế tài chính do chữa bệnh mà còn rất cóthể bị mất việc làm, phân biệt đối xử và bị khước từ sự giúp sức từ hội đồng vàgia đình. Ngoài HIV / AIDS, quả đât luôn đứng trước rủi ro tiềm ẩn những dịch bệnhphát sinh. Trong lịch sử dân tộc loài người, dân số quốc tế đã và đang bị khủng hoảngkhi đương đầu với dịch bệnh như tả, sốt rét, cúm gia cầm, SARS … Những dịchbệnh này tiến công và gây thiệt hại mạnh nhất ở những người nghèo và nhữngngười yếm thế trong xã hội, đặc biệt quan trọng là trẻ nhỏ, phụ nữ và người già. * Chiến tranh, nội chiến, xung đột sắc tộc, khủng bốHai cuộc cuộc chiến tranh quốc tế đã làm vơi đi hàng trăm triệu người và rấtnhiều thế hệ trong những mái ấm gia đình toàn quốc tế. Thế kỷ 20 cũng đã tận mắt chứng kiến rất nhiều cuộc chiến tranh giành độc lậpdân tộc như cuộc chiến tranh Liên Xô, cuộc chiến tranh Nước Ta … Hậu quả của các20cuộc cuộc chiến tranh xâm lược là mất mát về vật chất của cả nước tham chiến vànước bị xâm lược ; về niềm tin của người dân và quân nhân hai bên ; về nhữngthế hệ của người dân và quân nhân trong đại chiến. Như ở Nước Ta hiệnnay, di chứng cuộc chiến tranh vẫn còn ở những nạn nhân chất độc da cam ( chấtkhai quang ) do quân đội Mỹ rải xuống trong cuộc chiến tranh Nước Ta. Hậu quảchiến tranh rất nặng nề so với người trực tiếp tham chiến, mái ấm gia đình họ, dânthường và toàn xã hội rất nhiều năm sau đó. Thế kỷ 20 cũng là thảm họa của chính sách phân biệt chủng tộc A-pác-thaivà diệt chủng Pôn-pốt, thanh trừng sắc tộc ở Ruanda, BosniaCuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, quốc tế liên tục chịu đựng những cuộcxung đột sắc tộc và khủng bố ở khu vực Trung đông, Nam Á, Hoa Kỳ vànhiều nước phương Tây khác. Hiện điểm trung tâm chiến sự quốc tế vẫn còn ở Li-băng, I – xra-en, Pa-let-xtin … Giá của cuộc chiến tranh, xung đột, khủng bố khi nào cũng là sinh mạng, nhà cửa, hạ tầng, thu nhập, việc làm, nước sạch, lương thực … Hậu quảnặng nề nhất rơi vào phụ nữ và trẻ nhỏ. * Bất bình đẳng xã hộiPhụ nữ hiện chiếm hơn 50% dân số quốc tế nhưng phải gánh vác tới 2/3 việc làm và nhận lại khoản thu nhập chỉ bằng 1/10 thu nhập của quốc tế. Phụnữ chiếm hữu dưới 1 % gia tài quốc tế và 2/3 người mù chữ trên quốc tế là phụnữ. Đây là những số lượng do Liên hợp quốc đưa ra phản ánh thực trạng bất bìnhđẳng giới lúc bấy giờ trên toàn thế giới. Cùng với phụ nữ, trẻ nhỏ cũng là những đối tượng người dùng chịu thiệt thòi nhất. Trẻ em có rủi ro tiềm ẩn cao hơn người lớn so với những loại dịch bệnh. Trẻ emkhông được chăm sóc dễ là nạn nhân của nạn thất học, nạn buôn người, nạnđói, suy dinh dưỡng … 21N gười khuyết tật cũng là những người dễ bị phân biệt đối xử và cókhoảng cách với đời sống thông thường. Khoảng 3/4 người khuyết tật rơi vàosố người nghèo đến cực nghèo. Tại 1 số ít nước công nghiệp, tỷ suất thấtnghiệp của người khuyết tật cao hơn gấp 2 so với người thông thường. Tại rấtnhiều nước, đặc biệt quan trọng là những nước đang tăng trưởng, người khuyết tật ít có cơ hộitiếp cận với những dịch vụ công cộng, nhất là trường học và cơ sở y tế, văn hoádo thiếu phương tiện đi lại giao thông vận tải và khu công trình tiếp cận với người khuyết tật. 1.4. Vài nét về An sinh xã hội trên thế giớiNhư đã nói ở phần Mở đầu, An sinh xã hội, hay bảo đảm an toàn sinh sống làmong ước của mỗi con người, mỗi hội đồng người ngay từ thủa hồng hoang. Trong xã hội phương Đông, chính sách mái ấm gia đình, hội đồng, làng mạc luôn chechở, phủ bọc, trợ giúp những thành viên khó khăn vất vả là truyền thống lịch sử văn hoá từ đờinày sang đời khác. Dưới thời phong kiến, giai cấp thống trị cũng đề ra nhữngchính sách giúp người yếu thế, có nhiều khó khăn vất vả như cô nhi, quả phụ, ngườigià. Ở phương Tây, An sinh xã hội, tiếng Anh là “ social security ” hay trongtiếng Mỹ là “ welfare ” nghĩa là “ trợ cấp xã hội ” hay “ An sinh xã hội ” là nhữngtừ đã có từ rất lâu. Thời kỳ phong kiến, nông dân dựa vào sự ban phát của nhàthờ và sự bố thí của lãnh chúa mỗi khi mùa màng thất bát, đời sống đói kém. Khi chính sách phong kiến suy tàn, nhà thời thánh không đủ năng lực đối phó với nạnnghèo đói tràn ngập, năm 1601, ở nước Anh đã ban hành đạo luật Elizabeth chongười nghèo, đây hoàn toàn có thể coi là bộ luật an sinh tiên phong ở quốc tế phương Tây. Khi 1 số ít nước chuyển từ chính sách phong kiến sang chính sách tư bản chủnghĩa, hàng loạt sự biến hóa về chất và lượng trong lòng xã hội những nước đóđã diễn ra trước và sau đó, kéo theo những yếu tố xã hội mới phát sinh. Cuộccách mạng công nghiệp đầu thế kỷ XVIII khởi nguồn từ nước Anh đã mộtmặt cải tổ sức sản xuất, tại ra nhiều của cải, hàng hoá Giao hàng con người, nhưng mặt khác lại phát sinh nạn thất nghiệp, những hình thức tệ nạn xã hội, tình22trạng lạm dụng sức lao động trẻ nhỏ Công nghiệp hoá lan đến nông thôn, làm nông dân mất đất kéo ra những đô thị công nghiệp, đem đến một gánh nặngmới cho hội đồng thành phố từ những khu nhà ổ chuột đến đời sống bấp bênh, thu nhập thấp và những loại bệnh tật của những dân cư mới này. Để giải quyếtnhững yếu tố đó, những người làm công ăn lương đã lập nên những quỹ cứu tế, những hội, đoàn đồng thời đấu tranh đòi giới chủ và Nhà nước phải trợ giúp, bảo vệ đời sống cho họ. Năm 1850, lần tiên phong ở Đức, nhiều Bang đã xây dựng quỹ ốm đau vàyêu cầu công nhân phải góp phần để đề phòng khi thu nhập bị suy giảm, bệnhtật hay tai nạn thương tâm. Lúc đầu chỉ giới thợ tham gia, từ từ, hình thức bảo hiểmnày được lan rộng ra cho tổng thể mọi người có rủi ro tiềm ẩn rủi ro đáng tiếc vì tuổi già, bệnh tậthay do nghề nghiệp. Đến năm 1880, Chương trình An sinh xã hội được côngnhận tiên phong tại Đức, khi nhận được sự ủng hộ của Thủ tướng Otto vonBismarck. Chương trình không riêng gì làm lợi cho công nhân mà còn đón đầuchương trình của những trào lưu xã hội và dành được sự ủng hộ của giai cấpcông nhân. Luật An sinh xã hội được trải qua ở Đức năm 1883 đã quy địnhviệc bắt buộc mua bảo hiểm ốm đau, do công nhân trả 2/3 và người sử dụnglao động trả 1/3. Sau đó, bảo hiểm bắt buộc cũng vận dụng với hình thức bảohiểm tuổi già, do 3 bên : công nhân, chủ lao động và nhà nước cùng chi trả, được công nhận năm 1889. Tính chất đoàn kết và chia xẻ rủi ro đáng tiếc này đã làmtăng nghĩa vụ và trách nhiệm của cả ba bên tham gia đóng bảo hiểm, đồng thời làm tăngnăng suất lao động. Tuy nhiên, Luật về bảo hiểm thất nghiệp mãi đến năm1927 mới được thông quaSang những năm 30 của thế kỷ XX, quy mô An sinh xã hội của Đứcđã lan khắp châu Âu, sang những nước Mỹ La tinh, đến cả Bắc Mỹ và Ca-na-đa. Sau cuộc chiến tranh quốc tế thứ hai, An sinh xã hội trở thành nghành nghề dịch vụ hoạt độngphổ biến ở những nước mới giành độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Ca-ri-bê. Ngoài bảo hiểm xã hội, những hình thức giúp nhau như cứu trợ xã hội, tương tế23xã hội cũng được tăng trưởng để trợ giúp những người khó khăn vất vả như người giàcô đơn, trẻ mồ côi, người goá bụa Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, đềphòng tai nạn thương tâm, dịch vụ cho những đối tượng người tiêu dùng này cũng từng bước được lan rộng ra. Hệ thống An sinh xã hội được hình thành và tăng trưởng phong phú dưới nhiềuhình thức khác nhau ở từng vương quốc trong những tiến trình khác nhau. Tại Anh, chương trình hành vi Bảo hiểm vương quốc do David LloydGeorge kiến thiết xây dựng đã được trải qua năm 1911, cùng với đó, một chươngtrình bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc và chương trình bảo hiểm ốm đau đãđược thiết lập. Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp lúc đó chỉ tính đến công chứcChính phủ, y tá, công nhân thao tác ngoài giờ và những người có thu nhậptrên 250 bảng Anh / năm. Một chương trình bảo hiểm nhân mạng ( bảo hiểm chonhững người sống sót sau những tai nạn thương tâm ) đã được trải qua năm 1925. Năm1942, ngài William Henry Beveridge cũng trình làng với Quốc hội Anh mộtkế hoạch lan rộng ra chương trình An sinh xã hội, phần đông kế hoạch này đượcthông qua sau thế chiến thứ II.Pháp trải qua chương trình Bảo hiểm thất nghiệp tình nguyện năm1905 và năm 1928 làm tiếp những kế hoạch bảo hiểm bắt buộc về tuổi già và ốmđau. Trong khi đó, những chương trình An sinh xã hội phong phú cũng được thựchiện ở khắp châu Âu. Các chương trình này khác nhau giữa những vương quốc bởiloại hình bảo hiểm, phân hạng công nhân, phần chi trả giữa công nhân, chủlao động và nhà nước, những điều kiện kèm theo để được nhận những trợ cấp, số lượng cáctrợ cấp và sau cuối là hiệu suất cao chung của chương trình. Năm 1922, Liênbang Xô viết đã trải qua một kế hoạch An sinh xã hội tổng thể và toàn diện như mộtphần của nền kinh tế tài chính xã hội chủ nghĩa. Chi-lê trở thành nước châu Mỹ la tinhđầu tiên có một chương trình An sinh xã hội. Nước Mỹ không có An sinh xã hội cấp vương quốc cho tới năm 1935, khiLuật An sinh xã hội được trải qua như một phần của chương trình quyếtsách mới của Tổng thống. Đạo luật lao lý triển khai chính sách bảo vệ người24già, chính sách tử tuất, tàn tật, trợ cấp thất nghiệp. Luật này đã tạo ra hai chươngtrình bảo hiểm xã hội : một chương trình bồi thường thất nghiệp cấp bang – liênbang và một chương trình cấp liên bang về bảo hiểm hưu trí cho người già. Luật An sinh xã hội năm 1935 của Hoa Kỳ chỉ đề cập đến những côngnhân thuộc những ngành nghề thương mại và công nghiệp, nhưng sau đó, mộtvài sửa đổi lớn đã làm tăng số lượng công nhân thuộc những ngành nghề khácđược hưởng nguồn trợ cấp này. Năm 1965, Quốc hội Mỹ phát hành chươngtrình chăm nom y tế, cung ứng những quyền lợi về y tế cho người trên 65 tuổi, phốihợp với chương trình trợ giúp y tế cho những người nghèo ( không kể tuổitác ). Một sự sửa đổi năm 1972 đã thắt chặt những sự ngày càng tăng về quyền lợi chongười nghỉ hưu hưởng An sinh xã hội với sự ngày càng tăng về chỉ số Chi tiêu tiêudùng. Năm 1941, tại Hiến chương Đại Tây dương và sau đó là Tổ chức Laođộng quốc tế ( ILO ) cũng đã chính thức sử dụng thuật ngữ ” An sinh xã hội ” trong những công ước quốc tế. An sinh xã hội được thừa nhận là quyền của conngười. Đến nay, An sinh xã hội phổ cập ở hầu hết những nước trên quốc tế nhưcác hình thức tương hỗ lẫn nhau, nhưng nhìn chung đều có chung thiết chếchính thức tiên phong là bảo hiểm xã hội. Vì thế mà cách hiểu An sinh xã hội làbảo hiểm xã hội nhiều lúc vẫn bị nhầm lẫn. Hiện có nhiều quy mô An sinh xãhội khác nhau ở mỗi nước, mỗi khu vực trên quốc tế. Ví dụ như quy mô “ Nhà nước phúc lợi châu Âu ” ( những nước Đức, Hà Lan, Thuỵ Điển ) dựa trênbảo hiểm bắt buộc và quyền của công dân được hưởng an sinh thu nhập, ansinh tuổi già và bảo đảm an toàn sức khoẻ. Mô hình An sinh dựa trên bảo hiểm tựnguyện và trợ giúp xã hội cho những người không có năng lực tự giúp mình ( gồm có cả trợ cấp thất nghiệp ) như ở Mỹ, Ca-na-đa, Úc. Mô hình an sinhkết hợp giữa bảo hiểm xã hội bắt buộc dành cho khối chính thức với trợ giúp

Source: https://wincat88.com
Category: BLOG

Đánh giá post
spot_img

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ

ĐƯỢC XEM NHIỀU