spot_img
17.6 C
New York
Chủ Nhật, Tháng Chín 25, 2022
spot_img
spot_img

Bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt từ góc nhìn của các nhà chẩn đoán hình ảnh học

Phì đại lành tính tiền liệt tuyến ( Benign prostatic hypertrophy, BPH ) là bệnh lý phổ cập ở phái mạnh lớn tuổi, gây ảnh hưởng tác động rất lớn đến công dụng bài xuất nước tiểu, từ đó làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng đời sống của bệnh nhân. Chẩn đoán BPH dựa vào triệu chứng lâm sàng, thăm trực tràng, xét nghiệm PSA, siêu âm, sinh thiết dưới hướng dẫn siêu âm trực tràng và gần đây là vận dụng MRI phân biệt tổn thương tiền liệt tuyến lành tính và ác tính. Quyết định kế hoạch điều trị bệnh nhân tùy thuộc vào những bảng kiểm lâm sàng nhìn nhận ảnh hưởng tác động của phì đại tiền liệt tuyến đến tính năng bài xuất và chất lượng đời sống .

1. Đại cương

Tiền liệt tuyến bình thường khoảng 20 gam ở người trưởng thành và ổn định đến khoảng 40 tuổi. Tiền liệt tuyến có chức năng sản xuất ra một chất trung hòa môi trường axit của tinh dịch, vận chuyển tinh trùng ra dương vật trong quá trình xuất tinh, nhờ đó tinh trùng dễ dàng di chuyển từ âm đạo vào tử cung. Phì đại lành tính tiền liệt tuyến (BPHbenign prostatic hyperplasia) là sự phát triển lành tính tiền liệt tuyến bắt đầu ở tuổi trung niên và dần dần gây cản trở bài xuất nước tiểu.Theo tổ chức Y tế thế giới, trên 50% nam giới ở độ tuổi từ 60 – 70 tuổi bị phì đại lành tính tiền liệt tuyến, tăng lên 85- 88% ở người 80 tuổi trở lên. Tỷ lệ mắc và mức độ nặng của bệnh gia tăng theo tuổi. Các phì đại lành tính tiền liệt tuyến gây triệu chứng có khối lượng từ 30 đến hàng trăm gam, thậm chí có bệnh nhân tới vài trăm gam [1].

2. Triệu chứng lâm sàng

Đái khó rất thường gặp, thường phải cố rặn để đái, tia nước tiểu yếu, không đái xa được, đái ngắt quãng, đái xong vẫn còn vài giọt nước tiểu rơi vãi, tiểu són hoặc nhiều lúc thấy đái rỉ. Đái nhiều lần, thời kỳ đầu đêm hôm phải tỉnh dậy đi đái hơn 2 lần, thường là lúc nửa đêm về sáng, từ từ cả ban ngày tần xuất đi đái tăng dần thậm trí 30-60 phút đã buồn tiểu, đêm hôm phải dậy đi tiểu tới hàng chục lần. Bệnh tiến triển dẫn đến bí đái bất thần gây bàng quang căng ( cầu bàng quang ), hoặc bí đái từ từ .
Có thể có 1 số ít tín hiệu khác như buồn tiểu liên liếp, đi tiểu xong vài phút sau lại buồn tiểu, có cảm xúc còn nước tiểu trong bàng quang, hoàn toàn có thể có đái máu, đái đục. Các triệu chứng của bệnh không phải khi nào cũng tỉ lệ thuận với kích cỡ khối u. Có trường hợp u còn bé nhưng đã có rối loạn đi tiểu, có trường hợp u to nhưng những tín hiệu biểu lộ muộn ( phụ thuộc vào vị trí phì đại lành tính tiền liệt tuyến tăng trưởng ) .
Thăm trực tràng là chiêu thức thăm khám đầu tay rất đơn thuần, được cho phép sờ thấy tiền liệt tuyến to, mềm, tỷ lệ đều. Trong khi ung thư thường thấy tỷ lệ cứng, có nhân cứng không đều, đôi lúc thấy dính, ít di động [ 1,3 ] .

  • Đánh giá các giai đoạn bệnh lý

Giai đoạn 1 là quy trình tiến độ khởi đầu chưa có những tổn thương thực thể. Sự chèn ép của phì đại lành tính tiền liệt tuyến vào niệu đạo tiền liệt tuyến và lồi vào lòng bàng quang gây kích thích cơ bàng quang. Bệnh nhân khi buồn tiểu có cảm xúc muốn đi ngay không hề nhịn được, đái nhiều lần cả ngày cũng và đêm hôm. Nước tiểu tồn dư sau đái ( PVR : post-void residual volume ) khoảng chừng 50 ml .
Giai đoạn 2, Open cácdấu hiệu thực thể, đái khó, đái nhiều lần ở mức độ tăng dần về đêm, mất ngủ do phải dậy đi tiểu nhiều lần gây rối loạn giấc ngủ và hoạt động và sinh hoạt, PVR > 100 ml. Can thiệp điều trị ở quy trình tiến độ này là tốt nhất .
Giai đoạn 3, tổn thương mất bù, những tín hiệu thực thể rõ, nặng hơn, có tác động ảnh hưởng công dụng thận, cao huyết áp … PVR > 300 ml thậm chí còn vài ngàn ml [ 1 ] .

  • Đánh giá các biến chứng

Các biến chứng thường gặp của phì đại lành tính tiền liệt tuyến là bí đái trọn vẹn, bí đái cấp, đau quặn bụng dưới, bàng quang căng. Buồn đi tiểu nhưng không đái được. Bí đái không trọn vẹn, bệnh nhân vẫn còn đi tiểu được, nhưng mức độ ít, đái ri rỉ, bàng quang vẫn căng. Túi thừa bàng quang, hay gặp hình ảnh bàng quang tăng thúc tính với hình giả polip, giả túi thừa, có những đợt nhiễm trùng tiết niệu. Sỏi bàng quang do ứ đọng, đang đái dòng nước tiểu dừng bất thần một lúc rồi lại đái tiếp được. Đái ra máu, mủ ( viêm nhiễm ), nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết. Trào ngược nước tiểu bàng quang – niệu quản gây viêm bể thận, viêmthận bể thận ngược dòng dẫn đến suy thận [ 1 ] .

  • Đánh giá chất lượng cuộc sống (QoL- Quality of Life)

Nếu quãng đời còn lại bạn phải sống với tình trạng hiện tại, bạn cảm thấy thế nào?Các trả lời bao gồm: Vui vẻ: 0, Hài lòng: 1, Hầu như thỏa mãn: 2, Hòa lẫn giữa thỏa mãn và bất mãn: 3, Hầu như bất mãn: 4, Không hạnh phúc: 5, Khủng khiếp: 6. Điểm đánh giá chất lượng cuộc sống chia 3 mức độ:1 – 2: mức độ nhẹ, 3 – 4: mức độ trung bình, 5 – 6: mức độ nặng.Ngoài ra để kiểm tra sau điều trị người ta còn dùng bảng IIEF-5 để đánh giá rối loạn cương dương với các mức điểm như sau:

0 điểm : Không hề hoạt động giải trí tình dục hoặc không khi nào giao hợp
1 điểm : Rất thấp, phần đông không khi nào / không khi nào, hoặc hếtsức khó khăn vất vả
2 điểm : Thấp, hiếm khi ( chỉ vài lần – ít hơn 50 % số lần ) ; hoặc rất khó khăn vất vả
3 điểm : Trung bình ( vừa phải ) ; nhiều lúc ( giao động 50 % số lần ) hoặccó khó khăn vất vả
4 điểm : Cao, hầu hết mọi lần ( cao hơn nhiều 50 % số lần ) hoặc hơikhó khăn
5 điểm : Rất cao ; hầu hết luôn luôn ; hoặc không hề khó khăn vất vả .
Kết quả dưới 21 điểm có tín hiệu rối loạn cương dương

3. Các thăm dò cận lâm sàng

  • Siêu âm, chụp UIV, chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ

Siêu âm triển khai qua đường bụng hoặc trực tràng, tính thể tích phì đại lành tính tiền liệt tuyến. Thể tích tính bằng cm³, 1 cm³ tương tự 1 g ( hình 1 ) .

U phi dai TLT 2

Hình 1. Phì đại lành tính tiền liệt tuyến : Siêu âm, UIV, chụp bàng quang niệu đạo khi đái .
Chụp UIV ( niệu đồ tĩnh mạch ), hay chụp cắt lớp vi tính ( CLVT ) ít được dùng để chẩn đoán phì đại lành tính tiền liệt tuyến. Chụp cộng hưởng từ ( CHT ) thường dùng để chẩn đoán xác lập kích cỡ, chẩn đoán phân biệt phì đại lành tính tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến, mức độ bắt thuốc và xác lập map cấp máu tiền liệt tuyến, thế cho nên CHT có nhiều ứng dụng trong điều trị nút mạch phì đại lành tính tiền liệt tuyến .

  • Xét nghiệm PSA

Kháng nguyên đặc hiệu tiền liệt tuyến ( Prostate Specific Antigen – PSA ) thông thường ở mức < 4 ng / mL. Trong phì đại lành tính tiền liệt tuyến, nồng độ PSA cũng tăng lên. PSA còn tăng trong ung thư tiền liệt tuyến, viêm, chấn thương tiền liệt tuyến … PSA trong máu gồm có PSA toàn phần ( tPSA ) và PSA tự do ( fPSA ). Tỷ lệ fPSA / tPSA còn có giá trị nhìn nhận để chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến. Nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến cao nếu tỷ suất f PSA / tPSA ≤ 0,15 ( 15 % ) [ 4,5 ]. Ở những người thông thường, do size tiền liệt tuyến tăng theo tuổi nên 1 số ít nhà nghiên cứu và điều tra cho rằng lượng PSA còn nhờ vào vào khối lượng tiền liệt tuyến ( cứ tăng 10 cm3 thì PSA tăng 1 ng / ml ) người ta gọi là “ tỷ trọng PSA ” [ 2 ]. Việc sinh thiết tiền liệt tuyến để xác lập ung thư được chỉ định khi ngoài những tín hiệu lâm sàng hoài nghi và khi tỷ suất fPSA / tPSA < 10 %, hoặc khi vận tốc tăng PSA toàn phần ≥ 0,75 ng / mL / năm. Ngày nay nhờ chỉ điểm của cộng hưởng từ triển khai sinh thiết “ đích ” không cần sinh thiết nhiều vị trí ( có nhiều tai biến, đau đớn … ) [ 4,5 ] .

  • Xét nghiệm, các thăm dò

Tìm vi trùng, đo lưu lượng dòng chảy ( Qmax, Qmin ) nước tiểu ( thông thường > 15 cm / s, khi < 10 ml / s thường có ùn tắc - hình 2 ), nước tiểu tồn dư PVR ( thông thường đi tiểu hết bàng quang rỗng ), khi PVR > 50 ml cần theo dõi ứ đọng [ 1.3 ] .

U phi dai TLT

Hình 2. Lưu lượng nước tiểu thông thường ( A ) và bệnh lý ( B ) .

Thang điểm IPSS (International prostate symptom score) đánh giá mức độ phì đại lành tính tiền liệt tuyến gây triệu chứng đường niệu dưới.Người ta hỏi bệnh nhân diễn biến bệnh trong tháng với các câu hỏi (7) và đánh giá bệnh theo bảng:

Triệu chứng Không
khi nào
<1/5 thời hạn <50% thời hạn ~50%
thời hạn
>50%
thời hạn
Gần như luôn luôn
Cảm giác tiểu không hết 0 1 2 3 4 5
Đi tiểu lại sau 2 giờ 0 1 2 3 4 5
Tiểu ngắt quãng 0 1 2 3 4 5
Khó nhịn tiểu 0 1 2 3 4 5
Dòng tiểu yếu 0 1 2 3 4 5
Tiểu phaỉ rặn 0 1 2 3 4 5
Tiểu đêm 0 lần 1 lần 2 lần 3 lần 4 lần ≥5 lần
Số lần 0 1 2 3 4 5

Cách chấm điểm : Không lần nào : 0, Dưới 1/5 số lần : 1, Ít hơn nửa số lần : 2. Khoảng nửa số lần : 3, Hơn nửa số lần : 4, Hầu như luôn luôn : 5. Cộng điểm nhìn nhận : < 7 : Mức độ nhẹ, 8-19 : Mức độ trung bình, 20-35 : Mức độ nặng .

Tài liệu tham khảo

  1. Thomas Pfammatter, Gilbert Puippe. L’embolisation des artères prostatiques dansle traitement de l’hyperplasie bénigne de la prostate. Forum Med Suisse2013;13(43):877–878)
  2. Seisen, M. Rouprêt, A. Faix, S. Droupy. La prostate: une glande au carrefour uro-génital. Prog Urol, 2012, 22, S2-S6, suppl. 1.
  3. Carnevale et al. Quality of life and symptoms relief support prostatic artery embolization for patients with acute urinary retention due to benign prostatic hyperplasia. J Vasc Intervent Radiol supplement 2012;23(3S):abstract 4.
  4. Barry MJ. Prostate-specific-antigen testing for early diagnosis of prostate cancer. New England Journal of Medicine 2001; 344 (18): 1373-1377.
  5. Kuriyama M, Kawada Y, Significance of free to total PSA ratio in men with slightly elevated serum PSA levels: a cooperative study. Jpn J Clin Oncol 1998; 28(11): 661-665.

PGS.TS. Bùi Văn Lệnh, TS. Lê Tuấn Linh, BS. Nguyễn Thái Bình

Khoa Chẩn đoán hình ảnh- BV Đại học Y Hà Nội

Source: https://wincat88.com
Category: BLOG

Đánh giá post
spot_img

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ

- Đăng ký app xem 18+ -spot_img

ĐƯỢC XEM NHIỀU